Gương đảng viên
Nhà khoa học của nông dân
14:26' 16/5/2008


 

 

Chị là người ghi dấu các bước tiến tự hào của ngành Nông nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực nghiên cứu gia cầm; một nhà khoa học có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng, đem lại lợi ích thiết thực cho hàng vạn nông dân cả nước. Với những đóng góp của mình, chị đã cùng tập thể đoạt giải thưởng Ko-va-lép-xca năm 2001. Chị đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (2005), Bằng khen Cán bộ nữ xuất sắc của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và nhiều phần thưởng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ, UBND thành phố Hà Nội. Chị là gương mặt nữ duy nhất trong số 6 cá nhân là Chiến sĩ thi đua toàn quốc bước lên Diễn đàn Vinh quang Việt Nam năm 2007. Chị là TS. Bạch Thị Thanh Dân (ảnh), Bí thư chi bộ, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương (Viện Chăn nuôi Quốc gia).

Nhà khoa học “say” ấp trứng.

Năm 1976, tốt nghiệp đại học Nông nghiệp Xô-phi-a (Bun-ga-ri), cô cử nhân quê Vĩnh Phúc Bạch Thị Thanh Dân trở về nước, quyết tâm đem những kiến thức đã học ở nước ngoài phục vụ ngành Nông nghiệp nước nhà. Được phân công về Đội Gia cầm của Viện Chăn nuôi quốc gia, Dân vừa tiếp cận, làm quen, ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, vừa không ngừng học tập nâng cao trình độ. Nhờ vậy, cùng với quá trình trưởng thành trong nghề nghiệp, chị đã hoàn thành luận án tiến sĩ tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam với đề tài ấp trứng gia cầm.

Trong chăn nuôi, có nhiều khâu tạo thành vòng sinh sản khép kín, trong đó ấp trứng là một khâu đặc biệt quan trọng, là một mắt xích cơ bản để tái tạo, sinh sôi của các loài đẻ trứng. TS. Thanh Dân ví nghiên cứu ấp trứng cũng như nấu một mẻ rượu. Nếu có sự chuẩn bị tốt về kỹ thuật, về điều kiện nhiệt độ thì mới có một chai rượu ngon. Để có những quả trứng tốt cho ra được những sinh thể khoẻ mạnh phải có sự chuẩn bị công phu qua nhiều khâu, nhiều quy trình đòi hỏi sự theo dõi rất sát sao, cần mẫn. Mỗi lần theo dõi quá trình ấp trứng chị phải ghi lại chi tiết những yếu tố thay đổi, rút kinh nghiệm, đặt ra vô số câu hỏi, tại sao tốt, tại sao không tốt, nhiệt độ, độ ẩm đã phù hợp chưa, giống trứng ban đầu thế nào, xuất xứ từ đâu? Chỉ một thay đổi nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm, điều kiện chăm sóc… cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả. Thoạt nghe thì dễ, có thể làm được ngay, nhưng để trở thành những kỹ thuật viên lành nghề phải mất đến 5-10 năm. Theo dõi một sinh thể sống động thành hình trong quả trứng cho đến khi chào đời, với chị là niềm say mê, vui sướng, chẳng khác gì niềm vui của người mẹ sinh con vuông tròn.

Trong số những đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực ấp trứng, TS. Thanh Dân đặc biệt hài lòng về 2 đề tài ấp trứng ngan và ấp trứng đà điểu. Hai công trình lớn khẳng định “đẳng cấp” của một nhà khoa học giàu thực tiễn. Năm 1992, hơn một nghìn quả trứng ngan Pháp được nhập vào Việt Nam. Ngan ngoại có đặc điểm sinh sản cao nhưng ấp trứng lại kém, trái với đặc điểm ngan nội. Biết kinh nghiệm trong dân gian thường “nhờ” ngan mái ấp trứng gà, Thanh Dân mạnh dạn thử nghiệm tận dụng ưu thế của ngan nội. Về mặt kỹ thuật, mỗi giống mới nhập về phải có quy trình mới phù hợp với điều kiện sống, điều kiện thích nghi, không thể rập khuôn cũ, phải dựa trên phỏng sinh học của từng loài để rút ngắn thời gian thử nghiệm, tăng hiệu quả. Lý thuyết khoa học là vậy, nhưng để biến những kiến thức khoa học thành kết quả thực tiễn không đơn giản. Vì thế, chị quyết định phải tìm hiểu chính con ngan mái của Việt Nam xem nó ấp trứng thế nào để áp dụng cho giống ngan Pháp. Miệt mài, say sưa theo dõi ngan hàng giờ, tỉ mỉ ghi chép nhiệt độ, độ ẩm ổ ấp, số lần ra vào ổ của các con ngan mái, hồi hộp đợi chờ... Chị tâm sự “Mỗi ngày bên những ổ ấp, mình như nhìn thấy rõ các thực thể bé nhỏ dần lớn lên... Đó thực sự là niềm vui, niềm hạnh phúc của những người làm khoa học, phục vụ đời sống!”. Những nỗ lực của chị được đền đáp xứng đáng. Quy trình ấp trứng ngan Pháp tại Việt Nam đã thành công, trứng nở đạt 88%, trong khi mong đợi ban đầu chỉ hơn 70%. Đề tài của chị đã được Hội đồng khoa học của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá xuất sắc, cho phép đưa vào sản xuất, đến nay mỗi năm làm lợi hàng tỷ đồng cho nông dân.

Năm 1995, trong chuyến đi công tác châu Phi, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Công Tạn được tặng 2 quả trứng đà điểu. Ông giao cho Trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm ấp trứng đà điểu. Nhiệm vụ này nếu thành công sẽ mở ra một nguồn sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao. Lần đầu tiên nhìn thấy quả trứng đà điểu to và nặng gấp 10 lần quả trứng ngỗng (1.600-1.700 gram), chị vừa háo hức, vừa lạ lẫm, dè dặt, không dám kỳ vọng nhiều với việc ấp một loại trứng mới chưa có ở Việt Nam. Nhận nhiệm vụ này là một thách thức lớn. Nhưng không thể không làm... Bằng kinh nghiệm thực tiễn, chị phân tích: Đà điểu ở châu Phi, vùng sa mạc khô, gió, nắng nhưng trứng đà điểu lại vùi dưới cát thì chưa hẳn nhiệt độ ấp đã quá cao. Chị thử đặt 2 quả trứng ra góc cửa máy ấp trứng Nhật Bản, nơi nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ bên trong và quan sát. Hy vọng mong manh lớn dần, chị vui mừng khôn xiết khi nhìn thấy phôi đà điểu dần sống dậy. Sau 42 ngày cặm cụi, mò mẫm, khám phá và chăm chút với bao nhiêu mong đợi, cả đội ngũ cán bộ Trung tâm vui mừng chào đón 2 chú đà điểu con tách vỏ trứng chui ra, lẫm chẫm những bước đầu tiên. Thử nghiệm ấp 2 quả trứng đà điểu thành công, một Dự án về ấp trứng đà điểu được triển khai ngay với 150 quả nhập về. Dự án thành công. Sau hơn 10 năm, đến nay quy trình công nghiệp chăn nuôi đà điểu đã được chuyển giao áp dụng trên 40 tỉnh, thành trong cả nước, ở nhiều hộ gia đình và nhiều đơn vị. Là loài gia cầm mang lại giá trị kinh tế rất lớn và thích hợp với khí hậu miền Trung nước ta, giờ đây đà điểu có rất nhiều triển vọng để phát triển thành ngành kinh tế. Ghi nhận nỗ lực lao động này, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã trao tặng TS. Bạch Thị Thanh Dân danh hiệu Lao động sáng tạo năm 1996.

Ngoài các đề tài về ấp trứng, TS. Thanh Dân còn chủ trì và tham gia thực hiện 19 đề tài nghiên cứu khác và tham gia triển khai, xây dựng 4 đề tài cấp nhà nước và 6 đề tài cấp bộ, tham gia nhiều công trình khoa học trong hàng chục cuốn sách chuyên khảo kỹ thuật về lĩnh vực chăn nuôi gia cầm. Nhiều đề tài đã được công nhận là tiến bộ kỹ thuật, được chuyển giao vào sản xuất qua các dự án phát triển đàn gia cầm, thuỷ cầm, làm lợi nhiều tỉ đồng cho dân, cho nước.

“Làm lãnh đạo phải có Tâm”.

Làm khoa học, mà nhất là khoa học trong nông nghiệp, chị hiểu, đó là ngành khoa học phải gắn liền với cuộc sống của nông dân. Không thể có thành tựu nông nghiệp cao nếu người nghiên cứu không có lòng say mê thực sự, đi đôi với sự chu đáo, tỉ mỉ, chịu khó, chịu khổ và... chịu bẩn để gắn mình với cuộc sống của người nông dân. Những ngày đầu về Thuỵ Phương, Trung tâm khi ấy mới chỉ là tổ, đội nghiên cứu gia cầm, cô cử nhân trẻ không ngần ngại việc gì, nhiều lần chủ động nhận làm thay công nhân những khi họ nghỉ ốm, nghỉ phép những công việc như trực ca, lội mương, thau nước, khám trứng… Nhiều công nhân yêu quý, nể phục chị chính ở sự gần gụi, nhiệt tình ấy. Nhờ vậy, khi trở thành lãnh đạo đơn vị, chị đã quy tụ được tập thể đoàn kết, gắn bó, mọi người yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau và luôn đồng sức, đồng lòng vượt qua khó khăn, thực hiện có kết quả từng nhiệm vụ, từng đề tài, dự án…

Hiện nay, trên cương vị Phó giám đốc Trung tâm phụ trách công tác cán bộ, chị càng thấu hiểu: Nếu làm khoa học phải có trách nhiệm thì sử dụng cán bộ càng phải có trách nhiệm gấp nhiều lần. Có cán bộ tốt mới có những công việc hiệu quả. Hơn ai hết, chị hiểu rõ những phẩm chất, yêu cầu đối với cán bộ làm khoa học trong nông nghiệp, chị luôn ghi nhớ và thực hiện những lời dạy của Bác Hồ về công tác cán bộ và người làm công tác cán bộ, chị luôn cùng tập thể lãnh đạo tìm, mời những cán bộ có tri thức, phẩm chất tốt, gắn bó với thực tiễn về làm việc tại Trung tâm.

ở cương vị bí thư chi bộ, chị luôn hiểu rõ phải phát huy tinh thần dân chủ, biết khơi dậy khả năng sáng tạo, thế mạnh của mỗi người và quan trọng là phải có định hướng rõ ràng, cụ thể cho mọi việc. Trong cấp uỷ, ban giám đốc phải giữ vững nguyên tắc bàn định tập thể, đồng thời nêu cao tinh thần cá nhân phụ trách. Nhờ thế mà Chi bộ Trung tâm nhiều năm liền là chi bộ trong sạch, vững mạnh. Tập thể cán bộ nữ của Trung tâm (chiếm 67%) đã nhận Bằng khen Tập thể phụ nữ tài năng thời kỳ đổi mới của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.

TS. Thanh Dân luôn tâm niệm: “Làm lãnh đạo phải có Tâm và luôn gương mẫu. Nói thì phải làm. Nói mà không làm thì chẳng ai nghe; muốn làm gì cũng không phát huy được sức mạnh tập thể”. Những đợt rét đậm rét hại, những đợt cúm gia cầm bùng phát... chị và nhiều công nhân đã phải tạm biệt gia đình vào sống cách ly trong Trung tâm, bảo vệ đàn giống gia cầm. Có biết bao nhiêu khó khăn trong nghề mà để vượt qua, chị phải luôn là người gương mẫu đi đầu, lao động không ngừng nghỉ bằng cả trái tim, khối óc.

 Hơn 30 năm gắn bó với Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương, TS. Dân luôn coi đây là gia đình thứ hai của mình. Dù có những thời điểm khó khăn, lương không đủ sống, chị vẫn bám trụ. “Mình nản lòng, không chỉ phụ công những năm đèn sách, từ bỏ niềm đam mê, mà còn phụ lòng những người nông dân đã trông chờ, hy vọng và đặt niềm tin ở mình”. Cán bộ, công nhân viên của Trung tâm, ngay cả Giám đốc Trung tâm, đều coi TS. Bạch Thị Thanh Dân như một người chị, người thầy truyền cho họ nhiệt huyết, đam mê. Giám đốc Phùng Đức Tiến tâm sự: “Với tôi, chị không chỉ là một cấp phó đắc lực, còn là một tấm gương mẫu mực trong công việc, một người bạn chia sẻ khó khăn trong cuộc sống và trong khoa học. Tháng 1-2008, Trung tâm vinh dự được nhận Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch nước. Đây là vinh dự lớn của cả tập thể Trung tâm, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của TS. Bạch Thị Thanh Dân”.

Bùi Thu Thanh
Bài cùng chuyên mục
Hết mình vì công việc    (12/4/2009)
Lời thề trước Đảng    (20/2/2010)
Chiến công lặng lẽ    (3/4/2008)
Mẹ hiền    (9/1/2008)
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 8 - 2010
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS