Đảng viên
Sóc Trăng quan tâm phát triển tổ chức đảng, đảng viên ở các đơn vị kinh tế tư nhân
7:47' 17/12/2018
Toàn cảnh Hội nghị lần thứ mười bốn BCH Đảng bộ tỉnh khóa XIII
Thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23-11-1996 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về “Tăng cường công tác xây dựng đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân; gần 2 nhiệm kỳ qua, nhằm bảo đảm được sự kế thừa, phát triển và thêm sức chiến đấu, Sóc Trăng đã quan tâm nhiều đến công tác phát triển tổ chức đảng, đảng viên ở các đơn vị kinh tế tư nhân (KTTN) - lực lượng tiềm năng cho sự phát triển tỉnh.

Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23-11-1996 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về “Tăng cường công tác xây dựng đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân - DNTN) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài''; Kết luận số 80-KL/TW ngày 29-7-2010 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 07-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới; Quy định số 288-QĐ/TW ngày 8-2-2013 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; Quy định số 170-QĐ/TW ngày 7-3-2013 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong DNTN. Đặc biệt là Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3-6-2017 của Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa XII về phát triển KTTN trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Những văn bản này được xem là “kim chỉ nam”, là động lực cho sự phát triển của KTTN, đặc biệt là cho công tác phát triển đảng viên trong các DNTN của cả nước nói chung và của tỉnh Sóc Trăng nói riêng.

Nhận thức được tầm quan trọng của tổ chức đảng trong các DNTN, Ban Thường vụ (BTV) Tỉnh ủy Sóc Trăng căn cứ vào tình hình của tỉnh cụ thể hóa các quy định, chỉ thị của Trung ương sát hợp với thực tiễn. Theo đó, ngày 4-5-2011, BTV Tỉnh uỷ ban hành Quyết định thành lập Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh; ngày 9-5-2013, BTV Tỉnh uỷ ban hành Kế hoạch số 32-KH/TU về việc thí điểm việc kết nạp những người là chủ DNTN đủ tiêu chuẩn vào Đảng; ngày 14-5-2008 Tỉnh uỷ ban hành Chương trình hành động số 17-CTr/TU thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khoá X về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; ngày 13-2-2014, BTV Tỉnh uỷ ban hành Công văn số 639-CV/TU về việc xây dựng mô hình tổ chức đảng ở khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, cụm công nghiệp; ngày 3-6-2017, Tỉnh uỷ ban hành Chương trình số 20-CTr/TU thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của BCH Trung ương về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Với các văn bản kịp thời, phù hợp với thực tiễn, Sóc Trăng đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo thành lập các đoàn thể, TCCSĐ trong doanh nghiệp, từ đó giúp công tác phát triển tổ chức đảng và đảng viên ở các đơn vị KTTN đạt nhiều kết quả.

Những kết quả tích cực


Hiện nay, Sóc Trăng có 2.752 doanh nghiệp, gồm: 69 doanh nghiệp Trung ương 17 doanh nghiệp địa phương; 14 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 254 công ty cổ phần; 1.358 công ty trách nhiệm hữu hạn. Tổng nộp ngân sách nhà nước năm 2017 là 71,233 tỷ đồng. Trong tổng số các thành phần KTTN, có 923 DNTN và 52 hợp tác xã với 925 đảng viên làm KTTN; trong đó, có 122/975 DNTN thành lập tổ chức công đoàn với 7.965 công đoàn viên, chiếm 12,51%, gồm: 52 công ty trách nhiệm hữu hạn; 35 công ty cổ phần; 15 DNTN; 15 hợp tác xã; 2 doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài; có 10 chi đoàn thanh niên với 162 đoàn viên trực thuộc Đoàn Khối Doanh nghiệp tỉnh.

Về tổ chức đảng loại hình DNTN, Sóc Trăng có 17 TCCSĐ hoạt động theo Quy định số 170-QĐ/TW ngày 7-3-2013 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong DNTN, gồm: 15 chi bộ, 2 đảng bộ với 8 chi bộ trực thuộc. Ngoài ra, cấp uỷ có thẩm quyền cũng đang phối hợp với chủ DNTN xem xét việc thành lập tổ chức đảng ở 3 đơn vị DNTN khi đủ điều kiện về số lượng đảng viên theo quy định.

Cùng với việc phát triển tổ chức đảng, việc kết nạp viên ở các đơn vị KTTN được các cấp uỷ, tổ chức đảng quan tâm chỉ đạo thực hiện. Tính đến tháng 10-2018 toàn tỉnh kết nạp được 139 đảng viên, nâng tổng số đảng viên đơn vị KTTN lên 599 đồng chí, trong đó 60 đồng chí có trình độ công nhân kỹ thuật, nhân viên, 169 đồng chí trình độ trung cấp, 20 đồng chí có trình độ cao đẳng, đại học có 327 đồng chí và sau đại học có 23 đồng chí; 496 đồng chí được đào tạo sơ cấp lý luận chính trị, trung cấp có 82 đồng chí và cao cấp, cử nhân có 21 đồng chí.

Song song với việc quan tâm chỉ đạo các cấp uỷ phát triển tổ chức đảng và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đảng trong DNTN, BTV Tỉnh ủy chỉ đạo các cơ quan tham mưu, giúp việc Tỉnh uỷ, Đảng uỷ Khối Doanh nghiệp tỉnh thường xuyên theo dõi, kịp thời hướng dẫn các tổ chức đảng xây dựng, thực hiện quy chế làm việc của cấp uỷ, chi bộ và quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ chính trị giữa cấp uỷ với hội đồng quản trị, ban giám đốc công ty theo chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình. Từ đó đã phần nào khắc phục những khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức đảng hoạt động theo đúng Điều lệ Đảng, phù hợp với tình hình tổ chức và hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả lãnh đạo sản xuất, kinh doanh, thực hiện đạt chỉ tiêu, kế hoạch, tăng thu nhập và bảo đảm các chế độ, chính sách đối với người lao động, làm tốt nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, thực hiện tốt công tác an sinh xã hội.

Các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng được các cấp uỷ quan tâm thực hiện, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Đồng thời, tăng cường lãnh đạo hoạt động của các đoàn thể theo hướng thiết thực, hiệu quả và đúng theo điều lệ của mỗi tổ chức; qua đó, đã góp phần nâng cao ý thức của người lao động về thực hiện quy chế, nội quy lao động của doanh nghiệp, bảo đảm quyền và nghĩa vụ đối với người lao động.

Từ sự quan tâm, lãnh chỉ đạo của BTV, công tác lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt và hoạt động của chi bộ, đảng bộ cơ sở KTTN được các cấp uỷ thường xuyên theo dõi, chỉ đạo; qua đó, đã xuất hiện nhiều mô hình mới, cách làm hay, như: phổ biến thực hiện Đề án “xây dựng chi bộ 4 tốt”; “Nâng cao chất lượng hoạt động TCCSĐ loại hình DNTN”; tổ chức hội nghị chuyên đề “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ loại hình DNTN”, “Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”, “Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình”, “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát”; tổ chức hội thi bí thư chi bộ giỏi, góp phần bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xây dựng đảng, giúp cho bí thư chi bộ, cấp uỷ cơ sở đảng nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo và kỹ năng xử lý tình huống ở cơ sở. Duy trì họp nhóm cơ sở đảng đúng định kỳ để nắm tình hình hoạt động của doanh nghiệp, kịp thời tham mưu cho BTV Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đề ra những định hướng chỉ đạo và giải pháp giúp doanh nghiệp ổn định, phát triển.

Những hạn chế

Công tác tuyên truyền, vận động thành lập tổ chức đảng, đoàn thể trong DNTN chưa được thường xuyên. Công tác kiểm tra, đôn đốc, sơ kết đánh giá rút kinh nghiệm để chấn chỉnh những hạn chế, yếu kém chưa được quan tâm đúng mức, chủ yếu chỉ mới tập trung ở các đơn vị huyện, thị xã, thành phố. Một số nơi, vai trò của các tổ chức đảng, đoàn thể và đảng viên, đoàn viên trong DNTN chưa được phát huy đúng mức, đặc biệt là những tổ chức đảng được thành lập do đảng viên chuyển từ nơi khác về. Một số tổ chức đảng, đoàn thể chưa thật sự là cầu nối gắn bó giữa cấp uỷ với chủ doanh nghiệp và người lao động. Chất lượng, hiệu quả hoạt động thấp, phương pháp sinh hoạt còn đơn điệu, thiếu hấp dẫn. Bên cạnh đó, nhận thức của chủ DNTN về thực hiện các chủ trương phát triển tổ chức đảng, đảng viên ở các đơn vị KTTN chưa thật sâu sắc. Một số chủ DNTN không muốn phấn đấu vào Đảng. Một số ít cán bộ, đảng viên làm KTTN do tác động mặt trái kinh tế thị trường, dẫn đến suy thoái đạo đức, lối sống, vi phạm nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và vi phạm pháp luật.

Những hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do các cấp uỷ chưa quan tâm đúng mức việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức đảng, đoàn thể trong DNTN; chưa kịp thời hướng dẫn về nội dung, phương pháp hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể trong khu vực KTTN, dẫn đến các tổ chức đảng, đoàn thể còn lúng túng, bị động trong hoạt động. Mặt khác, do áp lực công việc, thu nhập của bản thân nên đảng viên, đoàn viên ít quan tâm đến việc tham gia các tổ chức đảng và tham gia sinh hoạt các đoàn thể trong DNTN.

Giải pháp

Xuất phát từ tình hình thực tế, cùng với xu hướng của sự phát triển, Sóc Trăng đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2020, xây dựng tổ chức đảng trong các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước đạt 5%; phát triển mới mỗi năm 90 đảng viên trở lên, tổ chức công đoàn đạt 15% và tổ chức đoàn thanh niên đạt 10% trong tổng số DNTN, thành lập hội phụ nữ ở những doanh nghiệp có điều kiện. Và để đạt được mục tiêu trên, thì cần quan tâm một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền và tổ chức thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23-11-1996 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác xây dựng đảng và các đoàn thể nhân dân trong các DNTN, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, hướng dẫn của Trung ương và các văn bản cụ thể hóa của Tỉnh ủy Sóc Trăng về phát triển tổ chức đảng, đảng viên ở các đơn vị KTTN nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức và quyết tâm trong hành động của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, chủ DNTN và người lao động về mục đích, yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, phát triển tổ chức đảng, đảng viên trong DNTN.

Thứ hai, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức tập hợp, thu hút người lao động vào tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên; tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ủng hộ việc thành lập và hoạt động của các đoàn thể trong DNTN.

Thứ ba, chỉ đạo các cơ quan chức năng thường xuyên gặp gỡ, đối thoại với chủ DNTN để nắm tâm tư, nguyện vọng, kịp thời giải quyết những vấn đề còn khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất - kinh doanh; động viên doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Đảng viên làm KTTN chấp hành nghiêm Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng; giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; tiên phong, gương mẫu đi đầu trong các phong trào đổi mới, sáng tạo, khởi nghiệp; tiếp thu ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất - kinh doanh; thực hiện tốt trách nhiệm đối với xã hội, cộng đồng, đóng góp vào sự phát triển chung của tỉnh.

Thứ tư, lãnh đạo tốt công tác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong doanh nghiệp; kịp thời phát hiện, xử lý và đề nghị cấp uỷ có thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm quy định của Điều lệ Đảng, vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm; việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng; thực hiện quy chế làm việc, Quy chế dân chủ ở cơ sở; về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí; các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

---------------------------------
[1] Nguyễn Phú Trọng, Xây dựng chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt để phát triển đất nước, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội, 2017, tr.25.


Nài Não

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 7 - 2019
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010:
VIDEO CLIPS