Kỷ niệm 75 năm ngày Nam Bộ kháng chiến: Âm vang đất Thành đồng ( 21/09/2020)

Đêm trước cuộc kháng chiến

Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước có những chuyển biến mạnh mẽ. Với vị trí đi đầu trong phong trào chống chủ nghĩa thực dân tại một địa bàn chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á, thành quả của cách mạng Việt Nam trở thành đối tượng bị chống phá quyết liệt của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế. Theo thỏa thuận tại Hội nghị Pốt-xđam (tháng 7-1945), lực lượng Đồng Minh sẽ đưa quân vào Đông Dương để giải giáp quân phát-xít Nhật. Ở miền Bắc nước ta, đầu tháng 9-1945, 20 vạn quân Tưởng gồm 4 quân đoàn dưới sự chỉ huy của tướng Lư Hán lũ lượt kéo vào chiếm đóng Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt - Trung tới vĩ tuyến 16, mang theo các nhóm phản động người Việt sống lưu vong ở Trung Quốc. Ở miền Nam, quân đội Anh đến Sài Gòn. Trong nước lúc này còn lực lượng quân Nhật. Nước Việt Nam chưa bao giờ có nhiều kẻ thù xâm lược đến vậy. Thành quả Cách mạng Tháng Tám, vận mệnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, nền độc lập của dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Tại Đông Dương, sau sự kiện quân Nhật đảo chính Pháp ngày 9-3-1945, giới cầm quyền Pháp buộc phải “hợp tác” với Nhật để tiếp tục cai trị trong bối cảnh chính trị nước Pháp vô cùng phức tạp. Mục tiêu khôi phục lại vị thế của Pháp ở một thuộc địa quan trọng như Đông Dương trở thành một trong những nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của Pháp. Tướng Đờ Gôn tìm cách bí mật gây dựng một lực lượng trong số thường dân và binh lính người Pháp tại Đông Dương nhằm sẵn sàng lấy lại chủ quyền khi có cơ hội.

Ngày 24-3-1945, tướng Đờ Gôn ra một tuyên bố quan trọng, xác định mục tiêu thành lập một Liên bang Đông Dương gồm 5 đơn vị, mỗi đơn vị được hưởng một mức độ tự chủ đáng kể. Bản tuyên bố cho rằng Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Lào và Căm-pu-chia khác biệt nhau ở “văn minh, nòi giống và truyền thống”, một vị toàn quyền Pháp (sau này đổi thành Cao ủy) sẽ đứng đầu liên bang và đóng vai trò là “người phân xử cho tất cả”. Bản tuyên bố này được Bộ Thuộc địa chuẩn bị kỹ lưỡng đã đặt nền móng cho chính sách Đông Dương của Pháp sau thế chiến thứ hai. Tuyên bố này có vẻ mang tính chất tự do, tuy nhiên nhận được nhiều phản đối bởi nó không công nhận sự thống nhất dân tộc của Việt Nam.

Bộ máy lãnh đạo của Pháp tại Đông Dương được thiết lập chắc chắn, mang tính chất quân sự và trung thành với tướng Đờ Gôn. Mặc dù nền cộng hòa Pháp trong giai đoạn này có nhiều xáo trộn, nhưng đường lối ngoại giao và chính sách đối với Đông Dương hầu như không thay đổi.

Mưu đồ tái xâm lược nhằm thiết lập lại ách cai trị của thực dân Pháp tại Đông Dương đã được Đảng ta dự báo từ trước. Trong hội nghị toàn quốc của Đảng (diễn ra từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945), Đảng đã chỉ rõ: “Quân Đồng Minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị của chúng tại Đông Dương” và dự tính: “Sự mâu thuẫn giữa Anh - Mỹ - Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh - Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương. Từ đó, Đảng nhấn mạnh chỉ có thực lực của chúng ta mới quyết định được sự thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng, nếu không sẽ trở thành một khí cụ trong tay kẻ khác: “Nhất là đừng có ảo tưởng rằng quân Trung Quốc và quân Anh - Mỹ sẽ mang lại tự do cho ta. Không, trong cuộc chiến đấu giải phóng cho ta, cố nhiên là phải kiếm bạn đồng minh dầu rằng tạm thời, bấp bênh, có điều kiện, nhưng công việc của ta trước hết ta phải làm lấy”. Do vậy, sự kiện Pháp đánh chiếm Sài Gòn sau ngày độc lập đã được Đảng dự báo trước và chuẩn bị đối phó.

Từ ngày “Nam Bộ kháng chiến” đến ngày “Toàn quốc kháng chiến”

Ngày 31-8-1945, một đơn vị tiền trạm của Anh tới Sài Gòn thu xếp việc đầu hàng của quân đội Nhật Bản. Sau đó là 2.500 quân Anh thuộc Lữ đoàn Gu-kha, Sư đoàn 20 đến sân bay Tân Sơn Nhất. Bám gót quân Anh, 2 tiểu đoàn biệt kích thuộc Trung đoàn thuộc địa số 5 của Pháp đổ bộ vào miền Nam. Tướng Pháp lập tức ra lệnh cho quân Nhật làm nhiệm vụ cảnh sát trong thành phố, đòi lực lượng vũ trang của Việt Minh phải nộp vũ khí. Quân Anh chiếm các trại giam, thả những quan chức Pháp và trang bị cho lực lượng lính Pháp bị giam giữ trước đó. Phía Anh đã tổ chức họp báo tuyên bố: “Việt Minh không đại diện cho nhân dân Việt Nam”, “Pháp có nhiệm vụ lập lại trật tự, sau đó sẽ thành lập chính phủ phù hợp với tuyên bố ngày 24-3”(1).    

Ngày 23-9-1945, quân Pháp được quân Anh, Nhật yểm trợ, bắt đầu nổ súng tái chiếm Sài Gòn làm bàn đạp, sau đó đánh rộng ra các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ, chính thức thực hiện âm mưu khôi phục chế độ thuộc địa của Pháp tại Đông Dương. Không khí chiến tranh bao trùm Sài Gòn và toàn Nam Bộ.

Ngay khi quân Pháp nổ súng tấn công, cùng ngày, xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị mở rộng khẩn cấp tại đường Cây Mai (Chợ Lớn) với sự tham dự của đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Thường vụ BCH Trung ương Đảng và các đồng chí Trần Văn Giàu, Ung Văn Khiêm, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng… Hội nghị phân tích âm mưu thực dân Pháp gây chiến cướp nước ta một lần nữa, sau hai giờ bàn thảo, Hội nghị quyết định quyết tâm tổ chức kháng chiến chống lại quân Pháp xâm lược, thành lập Ủy ban kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch, Huỳnh Văn Tiểng làm Phó Chủ tịch. Liền sau đó, bản Tuyên cáo Quốc dân được ban hành, ra mắt Ủy ban kháng chiến, kêu gọi đồng bào “cương quyết phấn đấu, toàn dân hãy đoàn kết để bảo vệ quốc gia”.

Sáng 23-9-1945, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam Bộ phát đi lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ đứng lên kháng chiến chống Pháp xâm lược. Cuộc kháng chiến của quân và dân Nam Bộ chính thức bắt đầu. Thực hiện lời kêu gọi kháng chiến: “Sài Gòn bị Pháp chiếm phải trở thành một Sài Gòn không điện, không nước, không chợ búa, không cửa tiệm”(2). Chiều cùng ngày, đồng bào Sài Gòn-Chợ Lớn triệt để tổng đình công, không hợp tác với giặc. Chợ ngừng họp, các cửa hiệu, nhà máy đóng cửa. Cuộc chiến đấu ở mặt trận Nam Bộ ngày càng cam go, căng thẳng.

Đảng, Chính phủ, Mặt trận Việt Minh phát động một phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến trên cả nước, đồng thời tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra phía Bắc với những hoạt động tiêu biểu như “Ngày Nam Bộ”, “Phòng Nam Bộ”, phong trào Nam tiến…

Ngay từ khi bắt đầu xâm lược Việt Nam một lần nữa, thực dân Pháp đã phải đối mặt với sức mạnh của một cuộc chiến tranh nhân dân. Bên cạnh đó, tình hình chính trị phức tạp, xáo trộn và tác động của cuộc chiến tranh thế giới khiến nền kinh tế Pháp tổn hại nặng nề, buộc thực dân Pháp phải tính toán đến những kịch bản xâm lược khác dài hơi hơn.

Cuộc kháng chiến cam go ở Nam Bộ đã cầm chân thực dân Pháp để Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thêm thời gian và điều kiện để chuẩn bị cho cuộc chiến trên mặt trận chính trị, ngoại giao với Pháp và quân Tưởng ở phía Bắc.

Ngày 31-5-1946, trước khi lên đường sang Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư đến đồng bào Nam Bộ, khẳng định: Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Để làm cho nhân dân ta thông suốt các chủ trương của Đảng và Chính phủ khi ký kết những thỏa thuận với Pháp - kẻ thù trực tiếp ở miền Nam không phải là một điều dễ dàng. Trong hoàn cảnh đó, lòng tin tưởng tuyệt đối của quần chúng nhân dân đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh có một ý nghĩa vô cùng lớn.

Xứ ủy Nam Bộ đã kịp thời phát động nhân dân vùng dậy diệt tề, trừ gian, vận động ngụy quân, ngụy quyền, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, chống địch khủng bố, càn quét, chống vi phạm các điều khoản của Hiệp định và vi phạm ngừng bắn… Trong thời gian ngắn, tình hình Nam Bộ và Nam Trung Bộ có những chuyển biến lớn, đặc biệt là sự phát triển về lực lượng chính trị, vũ trang và nửa vũ trang. Hầu hết các xã đã thành lập các tổ chức tự vệ và du kích. Tổ chức vũ trang được xây dựng từ cơ sở lên đến cấp tỉnh, trình độ tác chiến của các đơn vị tiến bộ rõ rệt.

Càng về cuối năm 1946, ý đồ khiêu chiến của thực dân Pháp càng rõ rệt. Quân Pháp nhiều lần vô cớ gây hấn và tấn công quân dân ta ở Hải Phòng, Lạng Sơn. Liên tiếp trong 2 ngày 17 và 18-12-1946, kẻ thù trắng trợn gây ra nhiều vụ khiêu khích ở Hà Nội, thậm chí gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi tước bỏ vũ khí của tự vệ, đòi chiếm Sở Công an Hà Nội và giữ trị an Thủ đô… Thực dân Pháp đã dồn nhân dân ta đến đường cùng, nếu không đứng dậy cầm vũ khí chiến đấu thì chỉ còn cách cam chịu khoanh tay làm nô lệ cho chúng thêm một lần nữa. Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, chính thức phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên quy mô toàn quốc.

“Âm vang đất thành đồng” - khúc vĩ thanh của sự kiện Nam Bộ kháng chiến

Nhận được điện báo từ Nam Bộ, Trung ương Đảng nhất trí cao với quyết tâm kháng chiến của Xứ ủy, Ủy ban nhân dân Nam Bộ. Ngày 24-9-1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi huấn lệnh cho quân dân Nam Bộ: “Lòng kiên quyết dũng cảm của nhân dân Nam Bộ chống lại quân đội xâm lược chẳng những làm cho đồng bào cả nước khâm phục, mà lại còn chứng tỏ cho cả thế giới đều biết các quyền độc lập của nhân dân Nam Bộ… Đồng bào phải cương quyết giữ vững lòng tin ở tương lai và lập tức thi hành triệt để những lời thề quả quyết trong ngày Độc lập”(3). Lời huấn lệnh này chính là sự khẳng định ý nghĩa chính trị to lớn của cuộc kháng chiến Nam Bộ, minh chứng cho sự tồn tại và sức mạnh ban đầu của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ trong quyết tâm bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám.

Cuộc kháng chiến bền bỉ của quân dân Nam Bộ đã đánh bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp trong cuộc tái xâm lược Đông Dương, góp thêm thành quả trong cuộc đấu tranh chính trị, ngoại giao phức tạp khó khăn của Đảng, của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các thế lực đế quốc.

Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã để lại cho Đảng ta nhiều bài học và kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là những kinh nghiệm đầu tiên về tổ chức và chỉ đạo kháng chiến, xây dựng và lãnh đạo lực lượng vũ trang, bài học tiến hành chiến tranh du kích và xây dựng cơ sở chính trị xã hội vùng sau lưng địch.

Từ ngày thực dân Pháp nổ súng tấn công tại Nam Bộ (23-9-1945) đến thời khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), trải qua 16 tháng giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ trước vô vàn khó khăn, gian khổ, duy trì cuộc kháng chiến bền bỉ của nhân dân Nam Bộ và chuẩn bị tích cực cho cuộc kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam đã phát triển về mọi mặt, từng bước giành lại sự chủ động trong cuộc kháng chiến.

Tháng 2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ tặng đồng bào miền Nam danh hiệu vẻ vang “THÀNH ĐỒNG TỔ QUỐC”, đồng thời khẳng định sự thống nhất của dân tộc Việt Nam, non sông Việt Nam như một nguyên tắc bất biến trong cuộc đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao với kẻ thù.

-----

(1) Dẫn theo Trần Đức Cường (chủ biên), Vùng đất Nam Bộ, tập VI, từ năm 1945 đến năm 2010, NXB CTQG-ST, 2017, tr.25. (2) Trần Văn Giàu, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1998, tập 1, tr.356. (3) Báo Cứu quốc, số 50, ngày 24-9-1945.


ThS. ĐỖ Xuân Trường Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
TS. Đỗ Khánh Chi Đại học Phenikaa
Các bài trước
Tác giả : TS. Nguyễn ngọc ánh - Viện Xây dựng Đảng. Đăng ngày: 21/09/2020
Tác giả : ***. Đăng ngày: 21/09/2020
Các bài tiếp
Tác giả : MAI ANH. Đăng ngày: 21/09/2020
Tác giả : ĐINH THÀNH. Đăng ngày: 21/09/2020
Tác giả : Thanh Xuân. Đăng ngày: 21/09/2020
Tác giả : Ngô Khiêm. Đăng ngày: 21/09/2020
Cơ hội luôn có trong mọi tình huống dù là thanh bình hay nguy nan, nhưng để nắm bắt “cơ hội” trong “nguy cơ” mới là điều khó, mới cần lãnh đạo tài năng, mạnh khoẻ, nhiệt huyết, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia là tối thượng.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: