4 giải pháp góp phần hoàn thiện quy chế chất vấn trong Đảng ( 21/09/2020)

Từ khi Bộ Chính trị khóa X ban hành Quy chế chất vấn trong Đảng theo Quyết định số 158-QĐ/TW ngày 12-5-2008 (dưới đây gọi tắt là Quy chế chất vấn trong Đảng năm 2008), hoạt động chất vấn trong Đảng đã có chuyển biến nhất định. Thực tế xây dựng Đảng hơn mười năm qua cho thấy, trong khi hoạt động tự phê bình và phê bình thường xuyên được đề cập như một giải pháp quan trọng thì hoạt động chất vấn ít được quan tâm hơn. Có nhiều cách để khắc phục thực trạng này, trong đó có việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện Quy chế chất vấn trong Đảng năm 2008 hiện hành. Tác giả bài viết xin đề xuất một số giải pháp sau: 

1. Thể hiện rõ phương châm “trên phải làm trước, dưới mới làm sau”

Quy chế chất vấn trong Đảng năm 2008 quy định đối tượng chất vấn là “cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp” (khoản 1, Điều 4) và “cấp ủy viên” (khoản 2, Điều 4) dễ dẫn đến cách hiểu rằng BCH Trung ương, Bộ Chính trị và các Ủy viên BCH Trung ương nằm ngoài đối tượng chất vấn. Các Ủy viên BCH Trung ương với tư cách là cấp ủy viên của các cấp ủy trực thuộc Trung ương và của các cấp ủy cơ sở cũng có thể là đối tượng chất vấn, nhưng đó vẫn chưa phải là chất vấn và trả lời chất vấn của cấp Trung ương. Do vậy, ngày 8-6-2012, Bộ Chính trị khóa XI tiếp tục ban hành Hướng dẫn số 02-HD/TW về thực hiện việc chất vấn trong Đảng tại các kỳ họp BCH Trung ương, trong đó quy định đối tượng chất vấn là “BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, trực tiếp là đồng chí được phân công thay mặt để trả lời; cá nhân các đồng chí Uỷ viên BCH Trung ương”. Tuy nhiên, việc chất vấn trong Đảng tại các kỳ họp BCH Trung ương từ sau Hướng dẫn số 02-HD/TW đến nay vẫn chưa có chuyển biến đáng kể. Cho nên, cần sớm tổng kết và sửa đổi Quy chế chất vấn trong Đảng năm 2008 theo hướng làm thế nào để chất vấn trong Đảng đối với cấp ủy và tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở là việc “phải làm”, chứ không phải là việc “nên làm” và nên nâng cấp Quy chế chất vấn trong Đảng từ Quyết định và Quy chế của Bộ Chính trị trở thành Nghị quyết và Quy chế của BCH Trung ương Đảng. Có như thế cá nhân các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Uỷ viên BCH Trung ương mới được xem là đã thực hiện nghiêm Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 “về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên BCH Trung ương”.

Cũng cần sớm tổng kết và điều chỉnh Quy chế chất vấn trong Đảng năm 2008 theo hướng làm thế nào để mở rộng chất vấn trong Đảng đối với đảng viên không phải là cấp ủy viên, ít nhất là quyền được trực tiếp chất vấn trong các hội nghị mà đảng viên được tham dự như hội nghị chi bộ cơ sở hay hội nghị đảng bộ cơ sở; đặc biệt là quyền được chất vấn gián tiếp bằng văn bản của đảng viên đối với cấp ủy cấp mình tham gia sinh hoạt và cấp ủy cấp trên trực tiếp, cũng như của cấp ủy viên cấp dưới đối với cấp ủy cấp trên trực tiếp. Ví dụ như cấp ủy viên cấp tỉnh có quyền được chất vấn gián tiếp bằng văn bản đối với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, BCH Trung ương và đối với Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Uỷ viên BCH Trung ương.

2. Bảo đảm chất vấn đúng địa chỉ

Căn cứ vào nội dung trả lời chất vấn của nhiều đảng bộ, có thể thấy nếu mang những nội dung ấy sang chất vấn tại các kỳ họp HĐND cùng cấp vẫn phù hợp, thậm chí càng rộng đường dư luận. Khi được phỏng vấn rằng có khác nhau giữa chất vấn trong Đảng tại các hội nghị cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy với chất vấn tại các kỳ họp HĐND hay các kỳ họp Quốc hội, có người vẫn cho rằng không khác nhau, hoặc khác nhau ít. Thực ra, sự khác nhau cơ bản giữa nội dung chất vấn trong Đảng tại các hội nghị cấp ủy hoặc BTV cấp ủy với nội dung chất vấn tại các kỳ họp HĐND hay các kỳ họp Quốc hội ở chỗ nội dung chất vấn trong Đảng tập trung vào những vấn đề chủ yếu thuộc trách nhiệm lãnh đạo của tập thể cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy, cá biệt có một số trường hợp do lạm quyền, lộng quyền nên trách nhiệm thuộc về người đứng đầu cấp ủy. Do vậy, cần có sự cân đối giữa nội dung lãnh đạo kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh với nội dung xây dựng Đảng.

3. Công khai nội dung chất vấn và trả lời chất vấn

Đối với chất vấn trên nghị trường ở nước ta hiện nay, việc công khai nội dung chất vấn và trả lời chất vấn dưới hình thức truyền hình trực tiếp tại kỳ họp Quốc hội đã được đông đảo cử tri cả nước quan tâm theo dõi. Trong khi đó việc công khai chất vấn trong Đảng thì dường như rất hạn chế. Thực ra, không có nội dung nào là không thể công khai trong các phiên chất vấn trong Đảng bởi Quy chế chất vấn trong Đảng năm 2008 đã nêu rõ: “Chất vấn và trả lời chất vấn trong Đảng là việc đảng viên hỏi và được trả lời về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức đảng hoặc chức trách, nhiệm vụ, tiêu chuẩn đảng viên, cấp ủy viên, trừ những vấn đề bí mật theo quy định của Đảng và Nhà nước”; “Người chất vấn gửi ý kiến chất vấn trước khi tổ chức hội nghị từ 3 đến 5 ngày để ban tổ chức hội nghị hoặc người chủ trì hội nghị xem xét, quyết định việc tổ chức trả lời chất vấn”.

Hướng dẫn số 07-HD/UBKTTW ngày 30-7-2012 của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương nhấn mạnh đối tượng chất vấn có quyền: “Từ chối trả lời nếu nội dung chất vấn thuộc bí mật của Đảng và Nhà nước (…) Những vấn đề thuộc bí mật của Đảng và Nhà nước được quy định trong Pháp lệnh bảo vệ bí mật Nhà nước do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 28-12-2000, trong các nghị định của Chính phủ, các quy định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công an, của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các tổ chức kinh tế được pháp luật quy định. Quyền bí mật đời tư của công dân được quy định tại Điều 38, Bộ luật Dân sự năm 2005. Những vấn đề thuộc bí mật đời tư của cá nhân cấp uỷ viên mà không vi phạm tư cách đảng viên, tư cách cấp uỷ viên thì cấp uỷ viên được chất vấn có quyền từ chối trả lời”. Như vậy hoàn toàn có thể loại trừ các nội dung chất vấn liên quan đến những vấn đề bí mật theo quy định của Đảng và Nhà nước nên không có trở ngại gì khi công khai những phiên chất vấn trong Đảng trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

4. Khẳng định vai trò nêu gương của người đứng đầu cấp ủy các cấp

Đối với hoạt động chất vấn trong Đảng, vai trò người đứng đầu cấp ủy rất quan trọng trên cả ba phương diện: trả lời chất vấn, chất vấn và chủ trì hoạt động chất vấn. Vai trò người bí thư cấp ủy thể hiện thường xuyên nhất và khó thoái thác nhất là trên cương vị chủ trì hoạt động chất vấn. Hướng dẫn số 15-HD/UBKTTW ngày 14-7-2008 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về thực hiện Quy chế chất vấn trong Đảng năm 2008 (nay đã hết hiệu lực) quy định trách nhiệm của người chủ trì hội nghị, trong đó có những quy định đòi hỏi bản lĩnh của người đứng đầu, chẳng hạn như “nếu đối tượng chất vấn cố tình giải trình không đúng sự thật, không đầy đủ theo nội dung chất vấn hoặc vòng vo, né tránh thì nhắc nhở, đề nghị trả lời trực tiếp vào đúng nội dung, yêu cầu của người chất vấn”, hoặc “nếu chủ thể chất vấn cố tình chất vấn không có tính xây dựng, nội dung không rõ thì người chủ trì hội nghị tỏ rõ chính kiến của mình và cho kết thúc việc chất vấn” (trường hợp cấp uỷ viên trực tiếp trả lời chất vấn thì không được uỷ quyền cho người khác trả lời - B.V.T).  

Người đứng đầu cấp ủy là đối tượng chất vấn “số một” của mọi cấp ủy viên. Nếu được mở rộng theo Điều lệ Đảng thì người đứng đầu cấp ủy sẽ là đối tượng chất vấn của mọi đảng viên trong tổ chức đảng mà mình làm bí thư. Thực tế hiện nay thì người đứng đầu chính quyền mới là đối tượng chất vấn “số một”, nhưng nếu điều chỉnh Quy chế chất vấn trong Đảng năm 2008 theo hướng cân đối giữa nội dung lãnh đạo kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh với nội dung xây dựng Đảng thì chắc chắn vị trí “số một” sẽ thuộc về bí thư cấp ủy. Chưa kể với tư cách cấp ủy viên cấp ủy cấp trên trực tiếp, người đứng đầu cấp ủy trực thuộc cũng có nhiều khả năng phải trả lời chất vấn tại các hội nghị cấp ủy cấp trên. Quy chế chất vấn trong Đảng năm 2008 cho phép nếu không phải là đối tượng trực tiếp chịu trách nhiệm về nội dung chất vấn thì người đứng đầu cấp ủy không nhất thiết phải trực tiếp trả lời chất vấn. Hướng dẫn số 15-HD/UBKTTW quy định: “Đối tượng chất vấn là cấp uỷ viên phải trực tiếp trả lời chất vấn, không được uỷ quyền người khác trả lời. Đối tượng chất vấn là cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp ủy thì cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp ủy trao đổi, thống nhất ý kiến và cử người trực tiếp trả lời theo ý kiến đã thống nhất trong tập thể cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ”.

Tuy nhiên, Hướng dẫn số 15-HD/UBKTTW cũng chỉ rõ: “Nếu người đứng đầu có mặt thì trực tiếp trả lời chất vấn; nếu người đứng đầu vắng mặt thì ủy quyền cấp phó của mình trả lời”. Chính vì thế, người đứng đầu cấp ủy nên thể hiện vai trò nêu gương của mình trong việc trực tiếp trả lời các nội dung chất vấn liên quan đến trách nhiệm của tập thể cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp ủy mà mình làm bí thư, hạn chế đến mức thấp nhất việc phân công cho phó bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ cấp ủy trả lời. Người đứng đầu cấp ủy cần phải thể hiện rõ vai trò nêu gương của mình trong việc chất vấn, chủ yếu là chất vấn ở các hội nghị cấp ủy cấp trên. Nội dung chất vấn của người đứng đầu cấp ủy trong trường hợp này có thể xuất phát từ nhu cầu xây dựng Đảng của bản thân mình nhưng cũng có thể xuất phát từ nhu cầu xây dựng Đảng của tập thể cấp uỷ hoặc BTV cấp ủy, thậm chí là của tập thể đảng viên trong đảng bộ mà mình làm bí thư. Vì thế, uy tín của người đứng đầu cấp ủy sẽ được nâng cao hơn nếu làm tốt vai trò nêu gương của mình trong việc chất vấn
Bùi Văn Tiếng
Nguyên UVBTV, nguyên Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng
Các bài tiếp
Tác giả : Hoàng Trọng Hưng - Ban Tổ chức Trung ương. Đăng ngày: 21/09/2020
Cơ hội luôn có trong mọi tình huống dù là thanh bình hay nguy nan, nhưng để nắm bắt “cơ hội” trong “nguy cơ” mới là điều khó, mới cần lãnh đạo tài năng, mạnh khoẻ, nhiệt huyết, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia là tối thượng.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: