Tự do và quyền tự do tư tưởng ( 01/12/2020)

         

Văn hoá của loài người là một dòng chảy liên tục, mỗi thời đại, mỗi thế hệ, tiêu biểu là các vĩ nhân, đều có đóng góp nhất định vào dòng chảy văn hoá chung của nhân loại. Ph.Ăng-ghen là một người như thế.

Trong số những trước tác viết riêng hoặc viết chung với C.Mác, không phải Ph.Ăng-ghen đã sáng tạo ra những tư tưởng lý luận toàn bích, bất biến nhưng một số giá trị văn hoá mà ông đã để lại trong các tác phẩm của mình vẫn thấy có những viên ngọc toả ánh sáng lấp lánh, nó đã xuyên qua những thăng trầm của lịch sử, qua nhiều kiếp người, để hôm nay vẫn còn đó như những châm ngôn bất hủ. Xin bắt đầu bằng một châm ngôn mãi mãi vẫn là niềm mơ ước chung, mà từ khi thế giới xuất hiện thể chế dân chủ tới nay đều ghi trên lá cờ của mình như một tuyên ngôn, lại vừa mang tính biểu tượng về sự khát khao cháy bỏng của mọi kiếp người: TỰ DO. Tự do vừa là bản chất tự nhiên, vừa là khát vọng thường trực của con người. Nó gắn liền với đời sống con người như một động lực để tồn tại và phát triển. Trong lịch sử phát triển của mình, mỗi thời đại nhân loại trải qua, người ta lại có những nhận thức và giải thích khác nhau về tự do.

Ở phương Đông, chế độ phong kiến chuyên chế kéo dài đè nặng lên tư duy con người về sự phục tùng vô điều kiện với những kẻ bề trên quyền thế mà đỉnh cao tuyệt đối là ông “con trời” (vua nghĩa là thiên tử). Vì thế tồn tại dai dẳng quan niệm tự do là cái cho phép, được ban phát từ trên xuống, như là một ân sủng của đấng bề trên trao cho con người hoặc như là sự nhân nhượng, sự gia ân của bề trên đối với kẻ dưới. Xã hội thần dân được truyền dạy thái độ an phận trong trạng thái thụ động đón nhận tự do được “bố thí”.

Ở phương Tây, chế độ phong kiến đã bị thủ tiêu sớm nhờ sự phát triển của đại công nghiệp, chủ nghĩa tư bản ra đời với tiêu ngữ đầu tiên là “Tự do, bình đẳng, bác ái”. Chính sự gặp gỡ giữa khát vọng tự do của con người với một thể chế thích ứng đã tạo ra trạng thái phát triển rực rỡ của nền văn minh công nghiệp. Ở đây người ta quan niệm tự do là quyền tự nhiên của con người, là quyền thiêng liêng, là tài sản hay vốn tự có mà tạo hoá ban tặng cho mỗi con người ngay từ khi con người vừa được sinh ra. Xác lập về mặt pháp lý quyền tư hữu tài sản và dựa trên tinh thần tuyệt đối của tự do cá nhân, người ta coi tự do là chất xúc tác cơ bản của đời sống, là động lực của sáng tạo và trở thành linh hồn của mọi sự tiến bộ và phát triển.

Cùng với sự phát triển chung của nhân loại trong sự giao thoa và tiếp biến văn hoá, dần dần người ta đã từng bước nhận ra rằng: Tự do là tất cả những gì liên quan đến đời sống con người, kể cả vật chất lẫn tinh thần; nó không phải là thứ gì đó trừu tượng, ở bên ngoài hay ở bên trên, mà nó chính là cái thuộc về đời sống con người, gắn liền với con người và biểu hiện cụ thể ra trong cuộc sống trần tục của nó. Tự do là nhà ở, nơi cư trú, là đường đi, là suy nghĩ, lời nói, ngôn từ, là tư tưởng và hành động, là việc làm, là miếng cơm manh áo, là những chuyện riêng tư… Nỗi đau lớn nhất của con người là mất tự do. “Đau khổ chi bằng mất tự do!” (Hồ Chí Minh).

Tự do biểu hiện ra muôn hình muôn vẻ thiêng liêng, quý giá và đầy sức mạnh đến mức không một trở lực, quyền uy và định kiến nào có thể trói buộc được nó mãi mãi. Tự do là bản năng sống còn của con người, là cái mà trí tưởng tượng và khát vọng của con người luôn vươn tới, luôn phấn đấu cho một ngày mai tốt đẹp hơn. Chính vì thế, từ xưa tới nay, khi con người đã trở thành một động vật có văn hoá, đã là CON NGƯỜI thì đều không yên phận sống trong sự nô dịch của người khác, không một dân tộc nào cam chịu sống trong sự kìm kẹp của dân tộc khác. Các cuộc kháng chiến giành độc lập, giữ vững chủ quyền quốc gia chính là để giải phóng con người ra khỏi sự phụ thuộc, nô lệ của kẻ đi xâm lược.

Sự anh dũng quật cường trong khát vọng giành tự do là một tiêu chuẩn cao nhất để khẳng định giá trị và sức mạnh của một dân tộc. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” (Hồ Chí Minh) là khát vọng xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, nó đã kết tinh lại thành truyền thống văn hóa lâu đời của nhân dân các dân tộc Việt Nam.

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tự do. Một trong những định nghĩa phổ biến nhất là của Hê-ghen: “Lịch sử của thế giới chính là tiến trình của ý thức tự do”. Và, “Tự do là cái tất yếu được nhận thức”. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng định nghĩa này đã chỉ rõ được ranh giới giữa trạng thái tự do và trạng thái không có tự do chính là ở sự nhận thức được cái tất yếu. Ph.Ăng-ghen thừa nhận định nghĩa tự do của Hê-ghen và ông là người giải thích rõ ràng, đúng đắn định nghĩa của Hê-ghen. Phê phán sai lầm của Đuy-rinh (nhà triết học và khoa học tự nhiên) về đạo đức và tự do, Ph.Ăng-ghen đã viết: “Hê-ghen là người đầu tiên đã trình bày đúng đắn mối quan hệ giữa tự do và tất yếu. Đối với ông tự do là sự nhận thức được cái tất yếu. “Cái tất yếu chỉ mù quáng chừng nào người ta chưa hiểu được nó” (câu này Ph.Ăng-ghen trích của Hê-ghen). Tự do không phải là ở sự độc lập tưởng tượng đối với các quy luật của tự nhiên, mà là ở sự nhận thức được những quy luật đó và ở cái khả năng (có được nhờ sự nhận thức này) buộc những quy luật đó tác động một cách có kế hoạch nhằm những mục đích nhất định… Vì vậy, “tự do là ở sự chi phối được chính bản thân và tự nhiên bên ngoài, một sự chi phối dựa trên sự nhận thức được những tất yếu của tự nhiên; do đó nó tất yếu là một sản phẩm của sự phát triển lịch sử”(1).

Đóng góp chung vào dòng chảy văn hoá của nhân loại, C.Mác và Ph.Ăng-ghen - hai tác giả của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, đã cho rằng chỉ khi xã hội xoá bỏ được nguồn gốc của những áp bức, bất công và tàn bạo thì khi ấy xã hội loài người mới “xuất hiện một thể liên hợp mới, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Giới nghiên cứu đều dễ dàng đồng ý với nhau rằng, đó là một câu hay nhất trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Giải phóng con người làm cho mọi người ai cũng được tự do là một quá trình, theo Ph.Ăng-ghen, bước khởi đầu tự do của mỗi cá nhân là phải làm cho mỗi dân tộc được làm chủ tuyệt đối trong ngôi nhà của mình, điều đó có nghĩa rằng độc lập dân tộc là tiền đề của tự do. Ông còn nói thêm rằng ý thức về tự do cần phải có từ cả hai phía, dân tộc bị áp bức, nô dịch và dân tộc đi xâm lược: “Không một dân tộc nào có thể trở thành tự do nếu cùng lúc đó còn tiếp tục áp bức những dân tộc khác”(2). Đó không phải là châm ngôn nổi tiếng vẫn đang soi sáng cho ý chí chính trị toàn nhân loại hay sao? Trong thời đại chúng ta đang sống, sự bành chướng, bá quyền, chèn ép và “bắt nạt” của bất cứ quốc gia nào, dù họ hùng mạnh, giàu có đến mấy, thì các dân tộc bị chèn ép, xâm lược không những phải chống lại để bảo vệ quyền tự do chính đáng của mình mà chính dân tộc đi ăn hiếp dân tộc khác cũng phải nhận thức được rằng bản thân dân tộc họ cũng đang mất tự do.

Muốn giữ vững chủ quyền quốc gia, thực hiện nền độc lập và xây dựng một nhà nước dân chủ và pháp quyền lấy tự do làm cốt lõi, làm điều kiện phát triển thì phải có đảng chân chính cách mạng lãnh đạo. Đảng đi tiên phong trước hết về nhận thức. Nhận thức và hành động là hai thành tố quan trọng của tự do, nhận thức để hành động, hành động có lý trí soi đường, nếu không sẽ mù mờ như người đi đêm không có đèn. Xã hội hiện tồn là một thực thể khách quan. Nói như C.Mác, khách quan vốn bướng bỉnh không phụ thuộc ý muốn chủ quan của ai. Để nhận thức đúng thì đảng chính trị phải dân chủ thảo luận để tìm ra chân lý. Hội thì phải thảo, phải có luận bàn, phải có tranh luận. Trên thực tế khi luận bàn bao giờ cũng có những ý kiến khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau; khi bàn về chủ trương và biện pháp hành động cũng thường có những đề xuất mang tính ôn hòa, có những ý kiến mạnh mẽ, có khi cực đoan. Theo Ph.Ăng-ghen thì: “Việc các xu hướng ôn hòa hơn và cực đoan hơn cùng phát triển và đấu tranh với nhau trong nội bộ đảng là thuộc về đời sống và sự phát triển của mỗi đảng, và kẻ nào thẳng tay loại trừ những người cực đoan hơn thì như thế chỉ thúc đẩy sự phát triển của họ mà thôi”. Ông còn chỉ rõ thêm rằng đảng của giai cấp công nhân trong khi nhận thức để hành động bao giờ cũng “dựa trên sự phê phán hết sức gay gắt xã hội hiện tồn; sự phê phán là sống còn của nó, làm sao bản thân nó lại có thể thoát khỏi sự phê phán được, lại muốn cấm tranh luận được?”. Ông chỉ ra một điều cực kỳ vô lý là: “Chẳng lẽ chúng ta lại đòi những người khác quyền tự do ngôn luận cho chúng ta, chỉ để rồi lại xóa bỏ nó trong hàng ngũ của bản thân chúng ta sao?”(3). Một đảng chân chính cách mạng, tuyên bố đấu tranh đòi tự do mọi mặt, bao hàm trong đó có quyền tự do tư tưởng, tự do suy nghĩ, tự do ngôn luận, tức là biểu đạt sự suy nghĩ của mình cho tất cả mọi người trên thế gian này thì không thể có chuyện ngược đời là hạn chế tự do tư tưởng, tự do ngôn luận ngay trong sinh hoạt nội bộ của đảng mình.

Hồ Chí Minh đã viết: “Tự do tư tưởng - Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người.

 Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý”(4).

Quyền tự do tư tưởng là quyền tự do phục tùng chân lý! Đó là một định nghĩa mang tầm cỡ một nhà văn hóa kiệt xuất! Hai Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI và khóa XII) của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đấu tranh, phê phán sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ trong nội bộ - nguy cơ lớn nhất đến sự tồn vong của Đảng và chế độ - rõ ràng đòi hỏi một sự tự do (nhận thức, nói và hành động) của mỗi người. Mong rằng từ nhận thức đến hành động, từ lời nói đến việc làm của bản thân những người cộng sản Việt Nam, nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người đứng đầu - hiện nay đang là những người chịu trách nhiệm chính về sự phát triển tự do của toàn dân tộc - nhớ lại lời thề trước lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc khi được kết nạp vào Đảng, cũng như lời hứa khi được giao giữ các chức vụ là nguyện suốt đời đấu tranh cho độc lập - tự do - hạnh phúc của dân tộc, của Nhân dân. Hãy xứng đáng là những chiến sĩ kiên cường, dũng cảm, không chịu khuất phục, không bị bệnh sĩ diện cá nhân, sự ám ảnh của quyền lực và tiền bạc mà tự giam hãm mình trong xiềng xích của chủ nghĩa cá nhân, như Bác Hồ từng căn dặn, để biến quyết tâm trên văn bản nghị quyết của Đảng thành hành động cụ thể, để nhân dân không những chỉ nghe thấy mà quan trọng là trông thấy, đo đếm được sự chuyển biến tích cực, tiến bộ rõ rệt trong đời sống hiện thực của Đảng, Nhà nước ta ở các cấp, các ngành từ Trung ương trở xuống.

Sự nhận thức được tính tất yếu của đổi mới, chỉnh đốn Đảng chính là chúng ta đã có bước tiến mới trên con đường đấu tranh cho tự do, hạnh phúc của Nhân dân.

-----

(1), (2) C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập, NXB Sự thật, 1980, tập 1, tr.163-164, tr.469. (3) C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Tuyển tập, NXB Sự thật, H.1984, tập 6, tr.707. (4). Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H.1996, tập 8, tr.216.


PGS. Trần Đình Huỳnh
Các bài trước
Tác giả : ***. Đăng ngày: 01/12/2020
Các bài tiếp
Tác giả : ThS. Đỗ Xuân Trường - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Đăng ngày: 01/12/2020
Tác giả : PGS, TS. Vũ Thanh Sơn - Cục trưởng Cục Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, BTCTƯ. Đăng ngày: 01/12/2020
Tác giả : NGÔ VĂN HÙNG - Trường Đại học Nội vụ. Đăng ngày: 01/12/2020
Tác giả : Thanh Xuân. Đăng ngày: 01/12/2020
Cơ hội luôn có trong mọi tình huống dù là thanh bình hay nguy nan, nhưng để nắm bắt “cơ hội” trong “nguy cơ” mới là điều khó, mới cần lãnh đạo tài năng, mạnh khoẻ, nhiệt huyết, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia là tối thượng.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: