80 năm khởi nghĩa Nam kỳ: Bài học về khởi nghĩa vũ trang ( 01/12/2020)


Xứ ủy Nam kỳ đêm trước khởi nghĩa

Năm 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp tới tình hình kinh tế, chính trị, xã hội xứ Đông Dương. Vào thời điểm này, xứ Nam kỳ nói chung, Sài Gòn nói riêng là nơi có hệ thống tổ chức cơ sở của Đảng Cộng sản Đông Dương và các phong trào cách mạng phát triển mạnh nhất. Nhận thức rõ vai trò và ảnh hưởng chính trị của Đảng ta, chính quyền thực dân Pháp đã tập trung lực lượng tăng cường khủng bố phong trào cách mạng, triệt phá các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng, hòng làm tê liệt tổ chức Đảng tại đây. Báo chí tiến bộ bị đóng cửa, các tổ chức dân chủ và những quyền lợi mà quần chúng nhân dân đã giành được trong giai đoạn đấu tranh từ năm 1936 đến năm 1939 đều bị thủ tiêu. Hàng loạt cuộc khám xét, bắt bớ của đế quốc diễn ra khắp cả nước. Nhiều trại tập trung mới được lập thêm để giam giữ những người cộng sản và những người yêu nước, tiến bộ. Riêng tại Nam kỳ, một số “căng” (trại giam) mới được thành lập như Tà Lài, Bà Rá…

Đứng trước sự chuyển biến hết sức nhanh chóng và phức tạp của tình hình quốc tế và Đông Dương, ngày 29-9-1939 Trung ương Đảng gửi thông cáo cho các cấp bộ đảng, kịp thời vạch ra một số phương hướng và biện pháp cần kíp trước mắt nhằm chuyển hướng các mặt hoạt động của Đảng. Thông cáo nhận định: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng”, đồng thời chỉ thị cho các cấp ủy và toàn thể đảng viên nhanh chóng và triệt để rút vào bí mật. Các địa phương và tổ chức đảng phải lựa chọn những đồng chí trung thành, hăng hái để dự bị thay thế cho các đồng chí bị địch khủng bố. Đảng kêu gọi các đảng viên phải nhận rõ hoàn cảnh vô cùng khó khăn, hiểm nghèo lúc này. Hội nghị Trung ương tháng 11-1939 đã quyết định chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng trong tình hình mới, xác định “nhiệm vụ chính cốt” lúc này của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ. Đảng ta xác định lực lượng chính là công nhân và nông dân, đoàn kết với các tầng lớp tiểu tư sản thành thị và nông thôn, đồng minh trong chốc lát hoặc trung lập giai cấp tư sản bản xứ, trung, tiểu địa chủ, do giai cấp công nhân lãnh đạo.

Trung ương Đảng quyết định các chủ trương, biện pháp cụ thể nhằm củng cố tổ chức đảng về mọi mặt, yêu cầu phải liên hệ mật thiết với quần chúng, vũ trang lý luận cách mạng, khôi phục hệ thống tổ chức đảng trên cả nước, chống nạn khiêu khích mật thám… Hội nghị Trung ương đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng về đường lối và phương pháp cách mạng trong giai đoạn chuyển từ đấu tranh dân chủ, dân sinh sang trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc và tay sai, từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật không hợp pháp và khởi nghĩa vũ trang.

Qua gần một năm khôi phục và phát triển cơ sở, vượt qua những thử thách của đợt khủng bố ác liệt nửa cuối năm 1939 của thực dân Pháp, Đảng đã củng cố vững chắc thêm hàng ngũ của mình. Tại Nam kỳ, hệ thống cơ sở đảng phát triển mạnh, có ảnh hưởng lớn tới phong trào cách mạng khiến thực dân Pháp rất lo lắng và tìm mọi cách tấn công, đàn áp. Đầu năm 1940, thực dân Pháp đã bắt giam nhiều chiến sỹ cách mạng kiên trung. Trung ương Đảng nhận định: “Mặc dầu đế quốc khủng bố gắt gao, Đảng vẫn luôn luôn phát triển. Nhất là từ khi Pháp bại trận, tháng 6, Đảng và các tổ chức do Đảng lãnh đạo nảy nở nhanh chóng. Đặc biệt là Đảng bộ Nam kỳ. Trong vòng ba tháng, từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 10, số đồng chí Nam kỳ tăng 60%”(1). Riêng tại Nam kỳ, “Đảng bộ ở đây xét thấy rằng đã có đến 30% quần chúng nhân dân có xu hướng cộng sản”.

Sự khủng bố ác liệt của kẻ thù càng làm cho tinh thần đấu tranh cách mạng của đảng viên và quần chúng nhân dân Nam kỳ ngày một mạnh mẽ. Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, nhiều cuộc bãi công, biểu tình của quần chúng lao động đã nổ ra ở khắp nơi với khẩu hiệu chống khủng bố, phản đối chiến tranh, chống chính sách bắt lính của thực dân Pháp... do Đảng Cộng sản khởi xướng. Nhờ có công tác vận động quần chúng của Đảng nên số binh lính người Việt trong quân đội Pháp cũng đã dần dần giác ngộ và tự nguyện tham gia vào các cuộc đấu tranh đòi cải thiện sinh hoạt, chống kỷ luật trại lính hà khắc... Cùng lúc đó, cuộc chiến tranh Pháp - Thái bùng nổ, binh lính người Việt bị điều động ra chiến trường. Sự kiện này như “đổ thêm dầu vào lửa”, làm cho binh lính người Việt trong quân đội Pháp, nhất là số lính sắp bị đẩy ra mặt trận ngày càng trở nên hoang mang, dao động, tâm lý phản chiến lan tràn.

Nhận thấy tình hình có lợi cho cách mạng, công tác vận động quần chúng của Đảng đã chú trọng vào việc tuyên truyền trong hàng ngũ binh lính Pháp với nội dung chống đi lính, chống chiến tranh. Trên địa bàn Nam kỳ, Xứ uỷ Nam kỳ đã nhanh chóng triển khai chủ trương của Đảng bằng quyết định của Hội nghị bàn công tác thúc đẩy phong trào quần chúng (ngày 13-12-1939), trọng tâm coi công tác binh vận là nhiệm vụ “cực kỳ quan trọng trong thời chiến” cũng như đề ra các hình thức thực hiện nhiệm vụ này.

Đầu năm 1940, quyết tâm phát động khởi nghĩa của Xứ uỷ Nam kỳ ngày càng cao. Kế hoạch khởi nghĩa dần được cụ thể hóa trong các cuộc họp của Xứ ủy, đặc biệt trong bản “Đề cương cách mạng Nam kỳ”. Nội dung cơ bản của “Đề cương cách mạng Nam kỳ” là chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Xứ uỷ đã triệu tập Hội nghị mở rộng (từ 21 đến 27-7-1940) tại ấp Tân Thuận, xã Tân Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho với sự tham dự của 24 đại biểu từ 19 tỉnh ở Nam kỳ. Đây là Hội nghị quan trọng nhằm thảo luận về chủ trương phát động khởi nghĩa vũ trang ở Nam kỳ, trọng tâm xoay quanh 3 vấn đề chính là trang bị vũ khí cho khởi nghĩa, nhận định về điều kiện phát động khởi nghĩa và có xem xét khởi nghĩa ở Nam kỳ trong tiến trình chung của cuộc tổng khởi nghĩa trong cả nước hay không. Ngày 21-9-1940, Xứ uỷ Nam kỳ tiếp tục triệu tập Hội nghị Xứ uỷ mở rộng ở Tân Xuân, Hóc Môn, Gia Định. Xứ ủy khẳng định: “Không khởi nghĩa sẽ có hại, quần chúng mất tinh thần, xa rời Đảng. Tiến hành khởi nghĩa sẽ có lợi, biểu thị được lực lượng đấu tranh giành độc lập” và giữ vững được Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương.

Diễn biến và bài học

 Ngày 22-9-1940, phát-xít Nhật tiến vào Lạng Sơn, chính thức đánh chiếm Đông Dương. Quân Pháp nhanh chóng tan rã, kéo cờ trắng đầu hàng quân Nhật. Ngay lập tức, Đảng bộ Bắc Sơn quyết định phát động quần chúng nổi dậy khởi nghĩa vũ trang, gây tiếng vang lớn đối với phong trào cách mạng toàn quốc. Tháng 10 năm 1940, xung đột Pháp - Thái bùng nổ. Đầu tháng 11-1940, Pháp tập trung một số lớn lực lượng binh lính người Việt để đưa ra biên giới. Trước tình hình đó, số đông binh lính bản xứ đã cương quyết phản đối lệnh điều động, chuẩn bị nổi dậy phản chiến. Khẩu hiệu “Không chịu chết cho thực dân Pháp ở mặt trận Pháp - Thái” được nêu ra làm ngọn cờ đấu tranh của binh lính. Không chỉ riêng Sài Gòn mà ở Mỹ Tho, Tây Ninh, Vũng Tàu... không khí phản chiến trong hàng ngũ binh lính cũng dâng cao. Vấn đề nổi dậy của binh lính lúc này đã trở nên vô cùng cấp thiết, mang ý nghĩa sống còn; nhiều nơi binh lính đã rục rịch tổ chức khởi nghĩa.

Đứng trước tình hình đó, ngày 15-11-1940 Xứ ủy Nam kỳ họp tại Hóc Môn, dù không hoàn toàn nhất trí, đã quyết định phát động khởi nghĩa và cử đồng chí Tạ Uyên (Bí thư Xứ ủy) làm Trưởng ban khởi nghĩa, trực tiếp chỉ huy khởi nghĩa tại trung tâm Sài Gòn - Chợ Lớn. Kế hoạch khởi nghĩa được đưa ra, tất cả lực lượng sẽ phát động tấn công cùng lúc trên toàn xứ, trước hết là đội ngũ binh lính trong quân đội Pháp - được coi là lực lượng nòng cốt trong cuộc nổi dậy lần này.

Nhận định thời cơ cách mạng đã chín muồi, Xứ uỷ Nam kỳ hạ lệnh khởi nghĩa vào đêm 22, rạng ngày 23-11-1940 với điểm phát hoả được chọn là Sài Gòn, sau đó đồng loạt tại các địa phương khác và cho thông báo xuống tận các cơ sở(2). Trước đó, ngày 22-11, đồng chí Phan Đăng Lưu vừa về tới Sài Gòn mang theo lệnh hoãn khởi nghĩa từ Trung ương Đảng thì bị địch bắt. Trước đó thực dân Pháp đã nắm được thông tin về khởi nghĩa cho nên đã tiến hành vây ráp, bắt bớ khẩn cấp. Bộ máy đầu não cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn hầu như rơi vào tay giặc. Đồng chí Nguyễn Như Hạnh, Bí thư Thành ủy Sài Gòn Chợ Lớn bị bắt cùng với Bản hiệu triệu đồng bào Đông Dương. Cùng ngày, Bí thư Xứ ủy Tạ Uyên bị địch bắt cùng với bản viết tay toàn bộ kế hoạch khởi nghĩa, từ việc bố trí xe cộ chở người, lập chướng ngại vật, rồi cứu viện Khám lớn, hạ độc binh lính Pháp(3) … Tổng cộng ở Sài Gòn - Chợ Lớn đã có tới 98 đồng chí bị địch bắt. Kế hoạch khởi nghĩa bị lộ.

Ngay lập tức, thực dân Pháp ban bố lệnh thiết quân luật, ráo riết lùng bắt những đảng viên còn lại, hạ lệnh tước vũ khí và cấm ra khỏi trại đối với binh lính người Việt ở Sài Gòn, tăng cường lực lượng trấn giữ các vị trí xung yếu trong thành phố... Ở Sài Gòn, khởi nghĩa không nổ ra theo đúng kế hoạch.

Mặc dầu kế hoạch bị lộ, bộ máy lãnh đạo khởi nghĩa bị bắt, Sài Gòn không thể thực hiện vai trò phát hoả và chủ lực quân là binh lính không thể nổi dậy nhưng vào rạng sáng ngày 23-11-1940, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra theo kế hoạch trên hầu hết các tỉnh ở Nam kỳ. Dưới sự lãnh đạo của các cơ sở đảng, đông đảo các tầng lớp quần chúng nhân dân đã nhất tề đứng lên chống lại ách nô dịch ngoại bang. Nhiều đồn bốt, châu, quận tại các tỉnh Gia Định, Chợ lớn, Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Sóc Trăng... đã bị lực lượng khởi nghĩa tấn công và làm chủ. Nhiều tuyến đường giao thông bị tê liệt do dân chúng phá huỷ cầu cống, đào nhiều hầm hào chắn ngang. Tại các tỉnh Tân An, Mỹ Tho, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng... nhiều địa phương đã thành lập được chính quyền nhân dân và toà án cách mạng. Có nơi, chính quyền cách mạng đã tịch thu thóc của địa chủ phản động chia cho dân nghèo. Lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện ở Nam kỳ đã trở thành biểu tượng của cuộc khởi nghĩa.

 Để trấn áp cuộc khởi nghĩa đang lan rộng trong các tỉnh Nam kỳ, thực dân Pháp đã huy động một lực lượng lớn gồm cảnh sát, quân đội thường trực được trang bị đầy đủ vũ khí, kể cả máy bay chiến đấu ném bom, điên cuồng đốt phá làng xóm, bắn giết dã man những người tham gia hoặc ủng hộ cuộc khởi nghĩa. Chỉ riêng ở 4 tỉnh Gia Định, Mỹ Tho, Cần Thơ và Long Xuyên đã có gần 6.000 người bị bắt và bị giết(4). Ngày 21-1-1941, Hội nghị Xứ ủy Nam kỳ mở rộng họp tại xã Đa Phước (Cần Giuộc, Chợ Lớn) đã bầu Xứ ủy mới do đồng chí Phan Văn Khỏe làm Bí thư, đồng chí Phan Văn Bảy làm Phó Bí thư. Nhưng sau đó, đa số các xứ ủy viên đều bị địch bắt do có nội gián trong Đảng. Một số còn lại phải tạm lánh, chuyển vùng hoặc nằm im không hoạt động. Tuy vậy, nhiều đảng viên vẫn kiên trì bám dân, tiếp tục hoạt động, móc nối tổ chức lại cơ sở cách mạng.

Nghiêm trọng hơn, không khí thất bại và hoài nghi bao trùm khắp Nam kỳ. Sau khi vượt ngục Tà Lài, Trần Văn Giàu - một chiến sĩ cộng sản kỳ cựu và có uy tín lớn đã tìm cách liên lạc, móc nối các cơ sở còn lại để phục hồi phong trào cách mạng. Tại Phú Lạc (thuộc Sài Gòn), Trần Văn Giàu gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo Đảng bộ như Bảy Trân, Sáu Thuần, Chín Báu… Tuy nhiên, tình hình rất khó khăn bởi các đảng viên còn lại đều ẩn hết trong rừng núi, trong xóm dân nghèo, nếu tìm về móc nối cơ sở cũ dễ bị địch giăng bẫy bắt ngay. Bảy Trân nói với Trần Văn Giàu những lời gan ruột: “Bây giờ tư tưởng hoài nghi bao trùm tất cả. Sau đại bại năm 1940, lòng tin xuống thấp nhất từ mười năm nay”(5).

Nhiều câu hỏi lớn được đặt ra về tiền đồ cách mạng, tình hình thế giới và tình hình Đông Dương. Trần Văn Giàu khi đó nhận định: “Không trả lời cho thông các câu hỏi đó thì không ai cùng mình xây dựng lại hệ thống và các cơ sở đảng ở Nam kỳ. Cái nguy nhất chưa phải là sự tan tác của tổ chức, cái nguy nhất là sự tan tác của tinh thần”(6). Trần Văn Giàu - “thầy giáo đỏ” trứ danh trong các nhà tù của thực dân Pháp khi ấy lần lượt giải đáp các vấn đề khó khăn, tìm cách động viên, phục hồi tinh thần cho các đồng chí cán bộ còn lại, quyết tâm tìm cách móc nối và củng cố lại hệ thống cơ sở đảng ở Nam kỳ. Chính ông là người tổng kết sớm nhất về thất bại của khởi nghĩa Nam kỳ khi tiếp xúc ngay với các “tư liệu sống” là các đồng chí trực tiếp tham gia khởi nghĩa bị địch bắt giam. Ông cho rằng thất bại của sự kiện lớn này gồm 5 điểm chính: “Một, thời cơ chưa chín. Hai, lực lượng chưa đủ. Ba, chỉ đạo chiến đấu sai lầm. Bốn, sau thất bại không biết bảo tồn lực lượng. Năm, nhìn chung, không phải là khởi nghĩa theo đường lối Mác-Lênin. Đã không biết tấn công, lại không biết thoái thủ để bảo tồn lực lượng, chờ thời cơ khác”(7).

Theo Trần Văn Giàu, kinh nghiệm rút ra sau khởi nghĩa Nam kỳ chính là phải vận dụng bài học của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, có tính đến kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta để đề ra đường lối đúng và phương pháp đúng thì mới có thể đưa cách mạng đến thắng lợi. Trước sự suy sụp tinh thần nghiêm trọng của các đồng chí còn lại, làm sao phải thổi bùng sự kiên trì ý chí cách mạng của đảng viên, đã là “đảng viên cộng sản thì không được bỏ gánh giữa đàng, phải giữ cho bổi cứ khô, cho than cứ hồng, thì ngọn gió lại thổi, lửa sẽ bốc cháy bừng lên”(8).

Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ đã để lại cho Đảng những bài học bổ ích về lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang. Khởi nghĩa Nam kỳ vừa chứng minh bài học của khởi nghĩa Bắc Sơn, vừa chứng minh bài học về xây dựng lực lượng khởi nghĩa. Sự kiện này chứng tỏ rằng, những cuộc binh biến chỉ có thể có hiệu lực đối với cách mạng nếu được đông đảo quần chúng nhân dân ở hậu phương tích cực ủng hộ và hưởng ứng. Cuộc khởi nghĩa phải là đỉnh cao của phong trào quần chúng to lớn, rộng khắp, kết hợp với lực lượng xung kích vũ trang lớn mạnh, dưới sự lãnh đạo thống nhất của đội tiền phong là Đảng Cộng sản. Lãnh đạo khởi nghĩa không chỉ là một quyết định chính trị, mà là một khoa học, đồng thời cũng là một nghệ thuật, phải tuân thủ chặt chẽ những điều kiện chủ quan, khách quan của tình thế khi đã đến độ chín muồi, nếu chưa có các điều kiện cần và đủ thì không thể thành công.

-----

(1) Nghị quyết của Hội nghị Trung ương ngày 6, 7, 8, 9-11-1940, Văn kiện Đảng, tập 7 1940-1945, NXB CTQG, H.2000, tr.60-61. (2) Trần Hữu Đính, Lê Trung Dũng, Cách mạng Tháng Tám 1945 - Những sự kiện. NXB KHXH, H.2000, tr.59. (3) Trần Giang, Nam kỳ khởi nghĩa ngày 23 tháng 11 năm 1940, NXB CTQG, H.1996, tr.82. (4) Dương Trung Quốc, Việt Nam: Những sự kiện lịch sử (1919-1945). NXB Giáo dục, H.2000, tr.322. (5), (6) Trần Văn Giàu, Hồi ký 1940-1945, biên tập Nguyễn Ngọc Giao, 2011, tr.54; tr.55. (7) Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, tập III, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1993, tr.501. (8) Trần Văn Giàu dấu ấn trăm năm, NXB Trẻ, 2015, tr.137.


ThS. Đỗ Xuân Trường
Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Các bài trước
Tác giả : ***. Đăng ngày: 01/12/2020
Tác giả : PGS. Trần Đình Huỳnh. Đăng ngày: 01/12/2020
Các bài tiếp
Tác giả : PGS, TS. Vũ Thanh Sơn - Cục trưởng Cục Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, BTCTƯ. Đăng ngày: 01/12/2020
Tác giả : NGÔ VĂN HÙNG - Trường Đại học Nội vụ. Đăng ngày: 01/12/2020
Tác giả : Thanh Xuân. Đăng ngày: 01/12/2020
Cơ hội luôn có trong mọi tình huống dù là thanh bình hay nguy nan, nhưng để nắm bắt “cơ hội” trong “nguy cơ” mới là điều khó, mới cần lãnh đạo tài năng, mạnh khoẻ, nhiệt huyết, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia là tối thượng.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: