Xây dựng đội ngũ cán bộ nữ các cấp cần thay đổi từ nhận thức ( 01/12/2020)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến công tác cán bộ nữ. Việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ, giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng giới, tạo mọi điều kiện để phát huy vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Trong “Di chúc” Người căn dặn: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc”. Thực hiện di huấn của Người, qua các thời kỳ cách mạng, đã có nhiều nghị quyết, chương trình hành động từ Trung ương đến địa phương được ban hành nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Khẳng định vai trò, vị trí của phụ nữ

Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước coi xây dựng phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu rõ: “Tăng tỉ lệ cán bộ lãnh đạo, cấp ủy là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ”. Nghị quyết số 26-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đề ra mục tiêu đến năm 2030 “Phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường vụ cấp ủy và tổ chức đảng các cấp. Tỉ lệ nữ cấp ủy viên các cấp đạt từ 20-25%. Tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35%”. Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định “Phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ”. Để đạt được mục tiêu trên, thời gian qua các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương đã đưa ra nhiều giải pháp tích cực. Trong đó chú trọng tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, tiềm năng của phụ nữ, về công tác phụ nữ và bình đẳng giới cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt là công tác tạo nguồn, quy hoạch cán bộ nữ được quan tâm thực hiện ở các cấp. Trên cơ sở quy hoạch, nhiều cấp ủy đã quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ nữ, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ phát huy vai trò, năng lực của mình.

Nhờ công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ được quan tâm cùng sự nỗ lực vươn lên của chính cán bộ nữ, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ không ngừng tăng. Nhiều cán bộ nữ được tín nhiệm giao giữ những trọng trách quan trọng và qua thực tiễn công tác họ đã khẳng định và phát huy được vai trò, vị trí của mình trong các cơ quan đảng, chính quyền, mặt trận và tổ chức chính trị - xã hội các cấp. Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy các cấp ngày càng nhiều. Ở cấp Trung ương, tỷ lệ nữ tham gia Bộ Chính trị và Ban Bí thư tăng lên qua các nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ Đại hội VIII của Đảng có 1 nữ là Ủy viên Bộ Chính trị, đến nhiệm kỳ Đại hội XII có 3 đồng chí, chiếm 15,79%. Từ Đại hội VIII của Đảng bắt đầu có nữ tham gia BCH Trung ương và con số này liên tiếp tăng trong các khóa X, XI, XII với các tỷ lệ tương ứng là 7,5%, 8,13% và 10%.

Tỷ lệ nữ tham gia BCH đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương qua 5 nhiệm kỳ gần đây tăng từ 11,3% đến 13,3%: Nhiệm kỳ 1995-2000 là 11,3%; nhiệm kỳ 2000-2005 là 11,32%; nhiệm kỳ 2005-2010 là 11,75%; nhiệm kỳ 2010-2015 là 11,42% và nhiệm kỳ 2015-2020 là 13,3%. Tỷ lệ nữ tham gia BCH đảng bộ huyện và tương đương 4 nhiệm kỳ gần đây đều tăng, từ 11,68% lên 14,3%: Nhiệm kỳ 1995-2000 là 11,68%; nhiệm kỳ 2000-2005 là 12,68%; nhiệm kỳ 2010-2015 là 14,74%; nhiệm kỳ 2015-2020 là 14,3%. Ở cấp xã, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy cơ sở qua các nhiệm kỳ gần đây tăng từ 11,73% lên 19,7%: Nhiệm kỳ 1995-2000 là 11,73%; nhiệm kỳ 2000-2005 là 11,88%; nhiệm kỳ 2005-2010 là 15,08%; nhiệm kỳ 2010-2015 là 18,1%; nhiệm kỳ 2015-2020 là 19,7%.

Đại hội đảng bộ cấp cơ sở nhiệm kỳ 2020-2025, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt 20,8%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng so với nhiệm kỳ trước và vượt yêu cầu nêu tại Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị. Nhiều tỉnh, thành phố tỷ lệ này tăng vọt so với nhiệm kỳ trước như TP. Hồ Chí Minh (27,3%), Lạng Sơn (26,7%), Bình Dương (25,2%), Ninh Bình (24,5%)... Đại hội đảng bộ trực thuộc Trung ương (theo kết quả bầu cử của 57/67 đảng bộ trực thuộc Trung ương) tỷ lệ nữ đạt 15,97%, cao hơn nhiệm kỳ trước 2,96%; trong đó có 31 đảng bộ đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên, cao nhất là Tuyên Quang (29,17%). Điều này cho thấy công tác cán bộ nữ trong nhiệm kỳ qua có chuyển biến tích cực cả về chất và lượng.

Đa dạng cách làm

Nhiều địa phương đã có những chủ trương, chính sách, giải pháp tạo điều kiện và hỗ trợ đội ngũ cán bộ nữ phấn đấu, rèn luyện, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Tỉnh Ninh Bình có nhiều cán bộ nữ được tín nhiệm giao trọng trách lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan, đơn vị từ tỉnh đến cơ sở, phát huy tốt hơn vai trò, vị trí của cán bộ nữ, thu hẹp dần khoảng cách về giới. BTV Tỉnh ủy đã chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2020-2025 bảo đảm đúng nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, yêu cầu. BTV Tỉnh ủy và các cấp ủy đã quan tâm xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ nói chung, trong đó đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ nữ, nhất là chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ trong quy hoạch. Giai đoạn 2020-2025 cán bộ nữ trong quy hoạch chức danh thuộc diện BTV Tỉnh ủy quản lý là 30,1%; diện BTV cấp ủy cấp huyện quản lý là 36,2%, tăng 8% so với giai đoạn 2015-2020. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng ở 3 cấp nhiệm kỳ 2015-2020 đều tăng so với nhiệm kỳ trước: Cấp tỉnh đạt 15,7%, cấp huyện đạt 20,1%, cấp xã đạt 18%. Nhiệm kỳ 2020-2025, cán bộ nữ tham gia cấp ủy cấp trên cơ sở đạt tỷ lệ cao với 24,5%. Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội khóa XIV là 16,7%, tham gia đại biểu HĐND cấp tỉnh 20%, cấp huyện 30,5%, cấp xã 25%.

Tại Thanh Hóa, công tác cán bộ nữ đã có chuyển biến đáng kể cả về nhận thức và hành động. Công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ lãnh đạo nữ trong các cơ quan đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội từng bước được quan tâm. Nhiệm kỳ 2020-2025, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy cơ sở đạt 19,8%, cấp trên cơ sở đạt 18,2%. Tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 tăng hơn so với nhiệm kỳ trước, đại biểu Quốc hội tăng 9,83%; đại biểu HĐND cấp tỉnh tăng 4,07%, cấp huyện tăng 4,22%, cấp xã tăng 3,41%.

Tỉnh Gia Lai đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, trong đó quan tâm đến đội ngũ cán bộ nữ. Tỉnh ủy đã tập trung chỉ đạo xây dựng quy hoạch cán bộ các cấp, các ngành bảo đảm đúng nguyên tắc, chất lượng, số lượng, cơ cấu. Nhiệm kỳ 2015-2020, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy tăng so với nhiệm kỳ trước, cấp xã đạt 22,3% (tăng 9,1%), cấp huyện đạt 16,7% (tăng 2,9%); cấp tỉnh đạt 14,5% (tăng 4,3%). Tỷ lệ nữ đại biểu tham gia Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 cũng tăng so với nhiệm kỳ trước, đại biểu Quốc hội 28,5%, đại biểu HĐND cấp xã 26,65% (tăng 10,2%), cấp huyện 27,5% (tăng 7,8%), cấp tỉnh 28,75% (tăng 2%).

Nhiệm kỳ 2020-2025, tỷ lệ nữ trong quy hoạch BCH Đảng bộ tỉnh Gia Lai đạt 26,44%, quy hoạch BTV Tỉnh ủy đạt 16,52%. Qua đánh giá bước đầu đại hội cấp trên cơ sở, tại 3 đại hội điểm và thí điểm, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt từ 17,14% đến 21,25%, ở 14 đại hội đại trà tỷ lệ nữ đạt 20,14%. Đây là nỗ lực lớn của các cấp ủy ở Gia Lai trong bối cảnh là tỉnh miền núi, điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế.

Tại Quảng Bình, đội ngũ cán bộ lãnh đạo nữ ngày càng được tăng cường, nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy nhiệm kỳ 2015-2020 tăng so với nhiệm kỳ trước, nữ tham gia BTV Tỉnh ủy chiếm 14,28%, tham gia cấp ủy huyện 15,36%, cấp cơ sở 18%; quy hoạch BCH Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025 tỷ lệ nữ đạt 19,55%.

Tỉnh Quảng Ngãi, việc lựa chọn, quy hoạch, đào tạo, dự nguồn cán bộ nữ tham gia các cấp ủy đảng, đoàn thể và ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp được chú trọng. Để chuẩn bị nhân sự bầu cử HĐND, UBND và đại hội đảng bộ các cấp, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo tổ chức đánh giá cán bộ, rà soát bổ sung quy hoạch cán bộ, xem xét bố trí cán bộ nữ ở các ngành và các lĩnh vực bảo đảm số lượng, chất lượng, tạo điều kiện cho cán bộ nữ trực tiếp tham gia vào các vị trí lãnh đạo bằng chính năng lực bản thân. Các chính sách về đào tạo nguồn nhân lực, trong đó có chính sách ưu tiên đối với cán bộ nữ đã góp phần tích cực trong việc hỗ trợ cán bộ nữ có cơ hội tiếp cận nhiều hơn các chương trình đào tạo, bồi dưỡng. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội là 57%, đại biểu HĐND cấp tỉnh là 23,63%, đại biểu HĐND cấp huyện 20,6%, đại biểu HĐND cấp xã 22,02%.

TP. Hà Nội có tỷ lệ cán bộ nữ khá cao. Hầu hết các cơ quan lãnh đạo từ thành phố xuống cơ sở đều có cán bộ nữ tham gia. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia BCH Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2015-2020 là 13,5%; cấp quận, huyện 19,6%; cấp xã, phường, thị trấn 24,9%, tăng so với nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIV của thành phố là 27,5%; đại biểu HĐND thành phố nhiệm kỳ 2016-2021 là 23,8%; ở cấp quận, huyện 30%; ở cấp xã, phường, thị trấn 28,5%. Đội ngũ cán bộ nữ thành phố ngày càng trưởng thành và có vai trò quan trọng trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các cấp đã thể hiện sự quan tâm, chăm lo đến công tác cán bộ nữ và tinh thần tự lực, tự cường, phấn đấu vươn lên của cán bộ nữ.

Tại TP. Hồ Chí Minh, từ nhiều năm nay, BTV Thành ủy đã chỉ đạo các cấp ủy cơ cấu trên 30% nữ trong quy hoạch nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý. Thực hiện chỉ đạo này, cán bộ nữ được quy hoạch trong BCH đảng bộ quận, huyện chiếm 39,22%, trong BTV bình quân đạt 37,9% và chức danh thuộc diện Thành ủy quản lý đạt 34,45%. Năm 2017, TP. Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với nữ cán bộ, công chức, viên chức đến năm 2020. Kế hoạch với những chỉ tiêu và giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nữ cán bộ, công chức, viên chức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chất lượng nguồn nhân lực nữ của TP. Hồ Chí Minh, chuẩn hóa đội ngũ nữ cán bộ, công chức, viên chức; giảm sự chênh lệch về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực của nữ cán bộ, công chức, viên chức so với nam cán bộ, công chức, viên chức. Để thực hiện được mục tiêu, một trong những nhiệm vụ quan trọng Thành phố đặt ra là phấn đấu đến cuối năm 2020, chủ tịch hội phụ nữ ở cơ sở tham gia cấp ủy tối thiểu đạt từ 90% trở lên, góp phần tăng tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 đạt từ 30% trở lên, nữ đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đạt từ 35% trở lên. Đến đầu tháng 9-2020, TP. Hồ Chí Minh đã hoàn thành đại hội đảng bộ cấp huyện và tương đương nhiệm kỳ 2020-2025 với tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đạt 27,28%, là một trong những địa phương có tỷ lệ này cao nhất cả nước.

Dù có nhiều khó khăn, song Bình Phước được đánh giá là tỉnh có nhiều thành công trong công tác cán bộ nữ. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, phát huy vai trò của phụ nữ được các cấp ủy trong tỉnh quan tâm thực hiện. Hiện nay nữ tham gia ở các vị trí chủ chốt các cấp với tỷ lệ cao. Nhiệm kỳ 2015-2020, nữ là ủy viên cấp cơ sở đạt 20,2%, cấp trên cơ sở 15,1% và cấp tỉnh 21,8%, đặc biệt là tỷ lệ nữ tham gia BTV Tỉnh ủy lên tới 30%. Kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, nữ là đại biểu Quốc hội đạt 33,33%; đại biểu HĐND tỉnh 35,38%, con số này ở cấp huyện là 26,2% và cấp xã là 25,94%. Trong quy hoạch nguồn nhân sự cấp tỉnh cho nhiệm kỳ 2020-2025, nữ tham gia BCH Đảng bộ tỉnh đạt 24,77%, BTV đạt 21,2%, chức danh chủ chốt đạt 35%.

Cán bộ nữ chủ chốt vẫn còn ít…

Tuy đạt được chuyển biến quan trọng trong công tác cán bộ nữ nhưng kết quả vẫn chưa tương xứng với vị trí, vai trò và tiềm năng của phụ nữ, chưa đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu đề ra trong các văn kiện của Đảng về công tác cán bộ nữ. Một số chủ trương, nghị quyết, chính sách, pháp luật liên quan đến công tác cán bộ nữ còn chậm được cụ thể hóa, chưa thống nhất và thiếu đồng bộ.

Một số ngành, lĩnh vực, địa phương chưa có quy hoạch dài hạn về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ, nhất là cán bộ nữ chủ chốt. Tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp ủy đảng, HĐND, UBND tham gia lãnh đạo, quản lý tuy tăng qua từng năm nhưng vẫn chưa đạt chỉ tiêu đề ra, thiếu tính ổn định và bền vững. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ nữ vẫn còn những bất cập, đặc biệt là nguồn cán bộ nữ chủ chốt còn thiếu... Đa số cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý được bố trí chủ yếu làm cấp phó, chưa xây dựng được cơ chế chính sách đặc thù cho phụ nữ, nhất là phụ nữ có con nhỏ, phụ nữ vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Một số cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đến công tác cán bộ nữ, còn biểu hiện thiếu tin tưởng vào khả năng, năng lực của cán bộ nữ.

Khi chuẩn bị nhân sự đại hội, cán bộ nữ thường được “cơ cấu cứng” các vị trí làm cấp phó các ban tuyên giáo, tổ chức, nội chính… Cán bộ nữ thường được quy hoạch ở vị trí cấp phó, rất ít đưa vào quy hoạch các chức danh đầu ngành. Một số ngành tỷ lệ cán bộ nữ đông nhưng không cơ cấu nữ làm lãnh đạo. Thực tế này phản ánh rằng cán bộ nữ chưa thật sự được tin tưởng.

Cần thay đổi về nhận thức

Trong nhiều rào cản dẫn đến công tác cán bộ nữ chưa đạt mục tiêu đề ra, quan trọng nhất chính là rào cản về nhận thức. Nhận thức về bình đẳng giới tuy có chuyển biến tích cực nhưng trên thực tế, trong xã hội và ngay trong từng cơ quan, đơn vị vẫn còn tồn tại khoảng cách về giới, những định kiến giới mang tính truyền thống vẫn chưa được thay đổi kịp thời. Các chính sách về độ tuổi, chỉ tiêu, quy trình quy hoạch... không tính đến đặc thù giới nên phụ nữ ít thuận lợi hơn nam giới. Việc lựa chọn, đánh giá, sử dụng cán bộ nữ còn có những biểu hiện thiếu khách quan, định kiến về năng lực quản lý của phụ nữ, sự thiếu tin tưởng vào khả năng của cán bộ nữ.

Mặt khác, nhiều phụ nữ chưa mạnh dạn tham gia vào quá trình quản lý xã hội và cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Một trở ngại lớn nhất, hạn chế cán bộ nữ tham gia quản lý xã hội không phải là do năng lực mà là các yếu tố về giới, là sự vướng bận về thiên chức. Một bộ phận cán bộ nữ còn biểu hiện tự ti, an phận, chưa có ý chí vươn lên.

Để khắc phục những tồn tại trên, các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị và chính phụ nữ phải tiếp tục đổi mới nhận thức về phụ nữ với tư cách là một lực lượng quan trọng trong sự phát triển của xã hội, phải được đối xử bình đẳng về quyền lợi, trách nhiệm. Phải coi công tác cán bộ nữ là một nội dung của nhiệm vụ giải phóng phụ nữ; là nhiệm vụ của tất cả các thành viên trong hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phải coi trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách về cán bộ nữ và đưa chỉ tiêu về cán bộ nữ là một nội dung đánh giá thi đua hằng năm. Bình đẳng giới, sự tiến bộ của phụ nữ chỉ có được khi cả hai giới cùng thay đổi về nhận thức.

Tiếp tục rà soát, bổ sung đưa cán bộ nữ vào quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý của các bộ, ngành, địa phương, đơn vị, nhất là những nơi có tỷ lệ nữ thấp; thực hiện quy hoạch gắn với đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, vị trí việc làm nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ nữ theo hướng chuyên sâu. Trung ương cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về công tác cán bộ nữ, có cơ chế hỗ trợ, động viên cán bộ nữ tích cực tham gia quản lý xã hội. Nghiên cứu điều chỉnh cơ chế, quy trình xem xét bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử các vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng kết hợp giữa bầu chọn và cử; có quy định về tỷ lệ nữ trong cơ cấu cán bộ với một số tiêu chí có thể thấp hơn so với nam giới, qua đó, tạo cơ hội cho cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý.

Các cấp, các ngành cần coi công tác cán bộ nữ là một bộ phận quan trọng trong công tác cán bộ. Đồng thời, quy định trách nhiệm cụ thể cho người đứng đầu các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị về trách nhiệm phát triển đội ngũ cán bộ nữ của ngành mình, cấp mình.


Thanh Xuân
Các bài trước
Tác giả : ***. Đăng ngày: 01/12/2020
Tác giả : PGS. Trần Đình Huỳnh. Đăng ngày: 01/12/2020
Tác giả : ThS. Đỗ Xuân Trường - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam. Đăng ngày: 01/12/2020
Tác giả : PGS, TS. Vũ Thanh Sơn - Cục trưởng Cục Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, BTCTƯ. Đăng ngày: 01/12/2020
Tác giả : NGÔ VĂN HÙNG - Trường Đại học Nội vụ. Đăng ngày: 01/12/2020
Cơ hội luôn có trong mọi tình huống dù là thanh bình hay nguy nan, nhưng để nắm bắt “cơ hội” trong “nguy cơ” mới là điều khó, mới cần lãnh đạo tài năng, mạnh khoẻ, nhiệt huyết, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia là tối thượng.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: