Lý luận Hồ Chí Minh kết tinh trí tuệ của nhân loại ( 07/11/2013)
                                   

Thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nguyễn ái Quốc xuất dương tìm đường cứu nước, người dân Việt Nam sống dưới hai tròng áp bức: Thực dân và phong kiến, đói rét, lầm than. Vì vậy, mối quan tâm trước tiên của Hồ Chí Minh là làm thế nào để đập tan được hai xiềng xích trên. Người đi khắp 5 châu 4 biển, đã tìm hiểu, nghiên cứu học thuyết của các nhà tư tưởng, lý luận đương đại cùng với nỗ lực bản thân bằng hành động thực tế, quy tụ những người cùng chí hướng. Người đã dựa vào phép biện chứng của C. Mác, về khối đoàn kết các dân tộc thuộc địa đánh đổ ách đô hộ nước ngoài của V.I.Lê-nin; học thuyết “từ bi, hỷ xả” của đức phật Thích Ca, “bác ái” của chúa Giê-su; “nhân - nghĩa” của Khổng - Mạnh, “tam dân” của Tôn Trung Sơn; “tự do, bình đẳng, bác ái” của Cách mạng tư sản Pháp; “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ... để vận dụng vào thực tế Việt Nam.

Hồ Chí Minh luôn luôn gắn lý luận với hành động cụ thể, đem lại hiệu quả thiết thực. Đặc biệt, Người đã chọn đúng thời cơ khi hạ lệnh tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, quy tụ được lòng dân vào mục tiêu đánh đổ phát-xít Nhật, giành chính quyền trong toàn quốc. Trong một thời gian ngắn, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến và 4 năm chế độ “cộng trị” giữa Nhật và Pháp. Lý luận Hồ Chí Minh tiếp thu sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin và các tư tưởng triết học tiến bộ của nhân loại vận dụng vào thực tiễn Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người, bước đầu đã thành công. Khi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cấu kết với nhau trở lại xâm chiếm Việt Nam lần thứ hai, lý luận Hồ Chí Minh tiếp tục được vận dụng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thực tiễn đã chứng minh lý luận Hồ Chí Minh là đúng đắn. Chỉ có hành động trên cơ sở lý luận của Người mới đem lại thành công.

Người có tác phong nói đi đôi với làm. Từ việc nhỏ đến việc lớn Người luôn sâu sát với cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là dân nghèo nhiều nước trên thế giới. Người hiểu rất rõ nguyện vọng của họ là: mong được hưởng thụ ngay khi sinh thời, không dừng ở lời hứa hẹn cho mai sau. Trong hoàn cảnh đất nước còn chia cắt, phải chiến đấu đánh đuổi đế quốc Mỹ - siêu đế quốc có tiềm năng kinh tế và quân sự lớn nhất thế giới, Người quyết tâm lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Người căn dặn và luôn rèn luyện cho đội ngũ cán bộ kế cận phải có kế hoạch xây dựng đất nước sau khi thắng lợi “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn”, “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”, “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người khẳng định: “Nước được độc lập mà nhân dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập ấy cũng không có ý nghĩa gì”. Đây chính là vấn đề trọng tâm giải quyết những ước mong của nhân dân mà các nhà triết học quá khứ chưa làm được.

Tiếp tục thực hiện lý luận của Người để dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chúng ta vận hành kinh tế thị trường vào xây dựng đất nước, xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đưa nước ta hội nhập kinh tế thế giới... Sau 38 năm hòa bình, thống nhất đất nước, chúng ta từng bước thực hiện một cuộc đổi đời của dân tộc. Đặc biệt là nông thôn Việt Nam, trước kia đói nghèo, lạc hậu thì nay với chương trình xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước ta đã thấy rõ sự đổi thay. Xin lấy một ví dụ là xã Cổ Dũng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Chi bộ xã này được thành lập ngày 24-2-1948 do tôi làm Bí thư chi bộ đầu tiên, nay đã tròn 65 năm. Xã Cổ Dũng cách Hà Nội 70km, cách Hải Phòng 30km, nằm giữa 2 ga xe lửa Lai Khê và Phạm Xá, có quốc lộ 5 và tuyến đường sắt đi qua. Nhân dân ở đây chất phác, lao động cần cù. Năm 1945, số dân của xã có khoảng 1.000 người thì bị chết đói 460 người (gần một nửa). Tháng 12-l946, giặc Pháp đổ bộ từ Hải Phòng lên chiếm đóng xã này và lập chính quyền “tề” phản động, đóng một bốt “dõng” ở Đình Vuông. Năm 1948, ta phá “tề” và diệt bốt, thu 12 súng trường Mỹ. Trải qua 9 năm kháng chiến chống Pháp, xã Cổ Dũng luôn là cơ sở kháng chiến làm địa bàn chuẩn bị cho nhiều cuộc tập kích đồn Lai Khê, Phạm Xá, phá đường số 5, đánh mìn đường sắt... Năm 1954, Cổ Dũng được giải phóng, cùng cả nước chi viện cho chiến trường miền Nam, xây dựng hậu phương miền Bắc. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xã Cổ Dũng cùng cả nước xây dựng cuộc sống trong hòa bình. Đến ngày 24-2-2013, kỷ niệm 65 năm ngày thành lập chi bộ đầu tiên, từ chỗ chỉ có 6 đảng viên, đến nay Đảng bộ có 281 đảng viên. Từ một xã chỉ có vài nhà ngói, nay toàn xã đã có 97% nhà xây dựng kiên cố, có nhiều nhà 2-3 tầng, chỉ còn 3% là nhà cấp 4, mái ngói. Từ một xã chỉ có 2-3 xe đạp, nay có 103 ô tô tải và 28 ô tô con. Hầu hết gia đình nào cũng có xe gắn máy, nhiều nhà có 2-3 chiếc. Toàn xã còn 5,5% hộ nghèo. Đảng bộ xã phấn đấu đến 2015 chỉ còn 3% hộ nghèo. Giá trị thu nhập bình quân đầu người 16,5 triệu/năm. Điện, nước sạch, đường bê tông đến từng gia đình và các trục đường chính ra nội đồng. Trên địa bàn xã có Trung tâm giáo dục thường xuyên do huyện quản lý. Trạm xá, trụ sở, hội trường xã, đài liệt sĩ khang trang. Đình làng trùng tu, nhà văn hóa mới xây dựng lại, phục hồi “hội Giống” nơi thờ Thành hoàng Nguyễn Gia Lộc, người từng là tướng nhà Trần có công lớn trong các trận đánh chống giặc Nguyên Mông, có thành tích được lịch sử ghi lại, được nhân dân quý trọng, tôn thờ đời này qua đời khác. Từ thực tế ở một địa phương cho thấy sự phát triển về kinh tế đã thúc đẩy sự phát triển về văn hóa.

Lý luận Hồ Chí Minh có nội dung là phục vụ con người, giải phóng con người, nâng cao đời sống con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phấn đấu để “Đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành”. Chính cốt lõi lý luận đó mà Đảng và Nhà nước luôn luôn chăm sóc đời sống nhân dân, trước hết là người nghèo, người ở vùng sâu vùng xa, nơi hang cùng ngõ hẻm và đã thành công, được Liên hiệp quốc tuyên dương: Việt Nam là nước đầu tiên hoàn thành Chương trình thiên niên kỉ của Liên hiệp quốc, nổi bật là xóa đói giảm nghèo.

Đó là kết quả một bước quan trọng trong thực hiện lý luận Hồ Chí Minh - Một chủ thuyết của Việt Nam do Hồ Chí Minh 30 năm bôn ba ở nhiều nước trên thế giới nghiên cứu học tập, tiếp thu và vận dụng vào thực tiễn trong nước đã thành công.

Trong lịch sử loài người, các nhà triết học ít nói đến vấn đề đoàn kết. Lý luận Hồ Chí Minh coi vấn đề đoàn kết là rất quan trọng trong mối quan hệ giữa người với người. Người cho rằng đã là con người thì bất cứ ở giai tầng nào đều có một mong muốn giống nhau, đó là: Cuộc đời mình phải được tự do, hạnh phúc. Hồ Chí Minh muốn đem lại hạnh phúc cho mọi người và mọi người muốn đạt được mục tiêu đó thì phải đoàn kết cùng nhau khắc phục thiên tai, chống lại kẻ cướp đoạt hạnh phúc của người khác. Do đó, trong lý luận của mình, Người đã nêu vấn đề đoàn kết ngay từ khi bắt đầu vào cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, giải phóng dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”.

Hồ Chí Minh tổng kết “vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, coi trọng đào tạo những con người làm trung tâm đoàn kết, đó là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước. Người đó phải có tài, có đức (trí, dũng, nhân), có thể quy tụ được mọi người qua lời nói và việc làm của mình. Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn gương mẫu trong hành động, đặc biệt trong nhận xét, sử dụng cán bộ. Khi tuyển chọn những cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước mà chọn phải người “đức hèn”, “tài mọn” dễ sinh ra mất đoàn kết, suy bì, tị nạnh, đố kị, tranh công đổ lỗi, bè cánh, phe nhóm, bỏ phí rất nhiều nhân tài, nhất là những người không “ăn cánh” với mình.

Đoàn kết là sức mạnh của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh, nước nhỏ chống lại nước lớn. Trong lịch sử Việt Nam, cách đây hơn 7 thế kỷ, chúng ta đã 3 lần đánh tan quân Nguyên do toàn dân, vua tôi đoàn kết một lòng. Tấm gương đoàn kết muôn đời toả sáng giữa Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và Tướng quân Trần Quang Khải biết dẹp bỏ hằn thù trong hoàng tộc vì nghĩa lớn của Tổ quốc, dân tộc để đánh thắng kẻ thù mạnh hơn ta nhiều lần. Phải có đức tài như Trần Hưng Đạo mới làm được như vậy. Lý luận đoàn kết Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống lịch sử của dân tộc. Hồ Chí Minh trong khi bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, không chỉ bị kẻ thù truy lùng, mà ngay trong những đồng chí và bạn hữu cũng gây cho Người biết bao khó khăn. Người sẵn sàng bỏ qua, giữ gìn nguyên tắc đoàn kết trong Đảng và trong nhân dân vì lợi ích của dân tộc.

Trong quá trình thực hiện lý luận của Hồ Chí Minh, ta có mắc một số sai lầm thiếu sót như giáo điều, duy ý chí, ỷ lại... nên đôi lúc xa rời lý luận của Người do tư tưởng “bụt chùa nhà không thiêng”, sính lý luận cao siêu, không thiết thực. Trong những năm qua, khi kinh tế nước ta phát triển, nếu chúng ta hiểu sâu sắc tư tưởng về tiết kiệm của Người, vận dụng nó trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, trong văn hóa - giáo dục, nhất là lĩnh vực văn hóa tâm linh, hướng dẫn nhân dân tiết kiệm trong lễ hội, cưới xin, ma chay, giỗ, tết, tiêu dùng, chắc chắn chúng ta đã có một số tiền rất lớn để xóa đói, giảm nghèo, số người biết làm giàu ngày càng đông, các doanh nghiệp vừa và nhỏ mọi ngành nghề sẽ phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động, an sinh xã hội bảo đảm. Mặt khác, do không giáo dục sâu sắc lý luận, đạo đức Hồ Chí Minh nên một số cán bộ khi có chức, có quyền thì kiêu ngạo, quên mình là người đày tớ trung thành của nhân dân, tìm mọi cách để vun vén cho bản thân và gia đình, xa rời thực tế, tham ô, lãng phí. Người lãnh đạo cao nhất lại không kịp thời uốn nắn để lan rộng ra thành thói quen, kích thích “lòng tham không đáy” của con người. Do đó, Đảng và Nhà nước ta phải có quyết tâm và có bước đi thích hợp, khoa học đối với tâm lý con người, từng bước ngăn chặn tham nhũng trong Đảng và bộ máy nhà nước theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI).

Chúng ta phải tiếp tục phấn đấu, nhất là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, để lý luận Hồ Chí Minh được thực hiện càng ngày càng tốt đẹp, để mọi người dân Việt Nam ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, sống trong đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ và giàu mạnh như mong ước của Người.


Đoàn Duy Thành
Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ
Các bài tiếp
Tác giả : TS. Trần Thị Anh Đào - Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Đăng ngày: 07/11/2013
Tác giả : Bùi Văn Tiếng - UVBTV, Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng. Đăng ngày: 07/11/2013
Tác giả : PGS, TS. Nguyễn Minh Tuấn - Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh. Đăng ngày: 07/11/2013
Tác giả : Ngô Minh Giang. Đăng ngày: 07/11/2013
Cơ hội luôn có trong mọi tình huống dù là thanh bình hay nguy nan, nhưng để nắm bắt “cơ hội” trong “nguy cơ” mới là điều khó, mới cần lãnh đạo tài năng, mạnh khoẻ, nhiệt huyết, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia là tối thượng.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: