Bí thư - Chủ tịch là một người và vấn đề kiểm soát quyền lực ( 07/11/2013)

Vì sao phải đặt ra vấn đề kiểm soát quyền lực, nói khác đi là kiểm tra và giám sát quyền lực? Đó là nhằm ngăn chặn, hạn chế nguy cơ xảy ra tình trạng chuyên quyền, lộng quyền, lạm quyền. Nguy cơ này càng trầm trọng hơn khi không có một cơ quan quyền lực có chức năng quyết định và quan trọng hơn là có chức năng giám sát mọi hoạt động của UBND cùng cấp như HĐND. Thật ra ở bất kỳ chế độ chính trị nào, hễ đã trao quyền lực thì đều có cơ chế kiểm soát quyền lực nhằm ngăn chặn, hạn chế tình trạng chuyên quyền, lộng quyền, lạm quyền. Ngay khi thực hiện mô hình truyền thống - một người giữ chức bí thư cấp ủy, một người giữ chức chủ tịch UBND, hoặc ngay khi có tổ chức HĐND - do bí thư cấp ủy hay phó bí thư thường trực cấp ủy giữ chức chủ tịch, cũng cần có cơ chế kiểm soát quyền lực. Huống chi trong bối cảnh quyền lực tập trung vào một đầu mối: Bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND (sau đây gọi tắt là BT-CT).

Tập trung quyền lực vào một người vừa là BT-CT cấp huyện có thể dẫn đến nguy cơ chuyên quyền, lộng quyền, lạm quyền như thế nào? Trước hết có thể thấy đây là sự kết hợp không đồng đẳng giữa hai cơ chế quyết định: cơ chế tập thể lãnh đạo của bí thư cấp ủy và cơ chế thủ trưởng của chủ tịch UBND - tất nhiên đã đứng đầu UBND thì chủ tịch cũng phải theo cơ chế tập thể lãnh đạo nhưng có một số việc mà chủ tịch UBND được sử dụng cơ chế thủ trưởng và khi đường ranh giới giữa hai cơ chế này chưa rạch ròi, không chủ tịch nào lại không thích sử dụng cơ chế thủ trưởng. Sở dĩ nói không đồng đẳng là vì trong quá trình tự phân thân giữa vai bí thư cấp ủy với vai chủ tịch UBND trong cùng một cán bộ thì xu hướng phổ biến là thiên về vai chủ tịch UBND - nghĩa là thiên về cái quyền cá nhân người đứng đầu được tự quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Hầu như rất ít trường hợp thiên về vai bí thư cấp ủy trong quá trình tự phân thân ấy, nói đúng hơn là rất ít trường hợp thiên về cơ chế phải báo cáo với tập thể ban thường vụ cấp ủy hoặc thường trực cấp ủy - thậm chí là tập thể UBND, để được thống nhất trước khi quyết định.

Trong bối cảnh như vậy, làm sao có thể kiểm soát được quyền lực? Làm sao có thể hạn chế được nguy cơ độc đoán, lạm quyền? Trước hết vẫn phải phát huy năng lực tự kiểm soát quyền lực của bản thân người BT-CT cấp huyện. Muốn thế phải tìm cho được một cán bộ hai vai cùng gánh nặng, vừa có tâm, vừa có tầm để có thể tự quyết định một cách đúng đắn, sáng suốt, đặt lợi ích chung lên trên hết, không vụ lợi cá nhân, nhờ thế mà không lạm quyền, độc đoán. Giải pháp này đòi hỏi tính tự giác cao của người trong cuộc, có thể khó trong mặt bằng đạo đức công vụ hiện nay nhưng không phải không khả thi, nhất là khi có những giải pháp bổ trợ hữu hiệu. Một trong những giải pháp bổ trợ hữu hiệu ấy là giải pháp (tạm gọi là thế) bố trí cộng sự - sắp xếp trợ thủ.

Nhìn sâu vào thực tiễn phát sinh những cán bộ độc đoán, chuyên quyền, có thể thấy ban đầu họ cũng là người biết lắng nghe, biết tranh thủ ý kiến của các cộng sự, các trợ thủ trước khi tự mình quyết định. Tuy nhiên họ dần dần nhận ra rằng hầu như họ không thu hoạch được gì đáng kể từ ý kiến của các cộng sự, các trợ thủ của mình, bởi phần lớn ý kiến ấy hoặc là sự đồng tình dễ dãi hoặc là sự bất đồng vô trách nhiệm, chứ không phải là sự phản biện nghiêm túc như mong đợi. Họ dần dần nhận ra rằng họ chỉ có một con đường là phải tự mình quyết định hết thảy, việc tranh thủ ý kiến chỉ còn là hình thức, thậm chí cái hình thức ấy cũng ngày càng trở nên không cần thiết. Chính vì thế, việc lựa chọn đúng người để giao giữ chức vụ BT-CT cấp huyện là rất quan trọng - điều đó đã đành - mà việc lựa chọn để bố trí cộng sự - sắp xếp trợ thủ cũng quan trọng không kém. Nếu bố trí, sắp xếp đúng, có thể đạt hai yêu cầu: người được giao giữ chức vụ BT-CT cấp huyện không cần và không thể độc đoán, chuyên quyền. Không cần là bởi họ thực sự có chỗ dựa đáng tin cậy, còn không thể là bởi những cộng sự, trợ thủ có tâm, có tầm sẽ không chỉ là “chân ga”, là động lực đủ để giúp BT-CT cấp huyện vươn tới đích, vừa là “chân phanh” để kìm hãm mọi sự quá đà, quá đáng của người đầy quyền lực này.

Để thực hiện giải pháp bố trí cộng sự - sắp xếp trợ thủ, trước hết cần quan tâm đến việc chọn lựa phó chủ tịch thường trực UBND cùng cấp. Nên giao cho BT-CT cấp huyện được quyền đề xuất với cấp ủy, thường vụ cấp ủy có thẩm quyền nhân sự cụ thể để bổ nhiệm người giữ chức phó chủ tịch thường trực UBND theo hướng lựa chọn những người có sở trường, thế mạnh trong công vụ khác - chứ không phải giống - với sở trường, thế mạnh trong công vụ của bản thân mình, từ chuyên môn nghiệp vụ cho đến kỹ năng mềm, cho đến tính khí, phong cách; theo hướng lựa chọn những người mà khi mình đã kết luận, quyết định thì tuân thủ chấp hành kết luận, quyết định ấy, nhưng khi còn cân nhắc chưa quyết định thì phải có trí tuệ để thảo luận bàn bạc, phải có cái tâm trong sáng để không sợ bị ngộ nhận động cơ và để thẳng thắn bộc lộ ý kiến phản biện mang tính xây dựng vì lợi ích chung. Đặc biệt, phải có trí tuệ và cái tâm trong sáng để khi kết luận, quyết định của mình đi vào thực tiễn, vẫn có sự tổng kết đánh giá khách quan nhằm khẳng định tính đúng đắn và quan trọng hơn là nhằm khẳng định khả năng không phù hợp của kết luận, quyết định để đề xuất cách bổ sung, chỉnh lý phù hợp. Tìm được một phó chủ tịch thường trực như thế thì việc người ấy tham gia hay không tham gia thường trực cấp ủy chỉ còn là việc tính toán cơ cấu thường trực cấp ủy sao cho tối ưu mà thôi.

Tiếp theo là cần quan tâm đến việc chọn lựa phó bí thư thường trực cấp ủy. Người giữ chức vụ phó bí thư thường trực cấp ủy thường ít có sự biến động về nhân sự trong mô hình bố trí BT-CT cấp huyện và hầu như cũng không nên đặt vấn đề thay đổi nhân sự khi bố trí đồng chí bí thư cấp ủy đương nhiệm giữ chức BT-CT. Tuy nhiên, cũng có thể đặt vấn đề thay đổi nhân sự khi bố trí đồng chí chủ tịch UBND đương nhiệm để giữ chức BT-CT. Vì sao vậy? Đó chính là vì lý do tâm lý: đồng chí phó bí thư thường trực cấp ủy đương nhiệm dễ có cảm giác “ngang hàng”, “cùng cơ” thậm chí “trên hàng”, “trên cơ” đồng chí chủ tịch UBND đương nhiệm vừa được bố trí chức BT-CT. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là ở đây cần một phó bí thư thường trực cấp ủy như thế nào?

Phó bí thư cấp ủy không phải là người giúp việc cho bí thư cấp ủy theo nghĩa phó thủ trưởng giúp việc cho thủ trưởng. Sự khác biệt này đòi hỏi phó bí thư thường trực cấp ủy phải có một tư cách công vụ không chỉ khác so với các phó chủ tịch UBND cùng cấp mà còn khác so với các ủy viên ban thường vụ cấp ủy cùng cấp trong sinh hoạt thường trực cấp ủy. Đây là điều kiện thuận lợi để phó bí thư thường trực cấp ủy vừa là “chân ga”, là động lực, lại vừa là “chân phanh”, là trở lực như nêu trên. Tuy nhiên, khác biệt đến mấy thì phó bí thư thường trực cấp ủy cũng không có được tư cách người đứng đầu như bí thư cấp ủy. Cho nên, trong khi lựa chọn bố trí phó bí thư thường trực cấp ủy, cần hết sức tránh những nhân sự chỉ có tâm thế làm người đứng đầu khi chưa trở thành người đứng đầu - đó là đòi hỏi quan trọng nhất. Và trong trường hợp này cũng nên dành cho BT-CT cùng cấp quyền được đề xuất với các cấp ủy, thường vụ cấp ủy có thẩm quyền nhân sự cụ thể để giới thiệu bầu người giữ chức phó bí thư thường trực cấp ủy.

Một giải pháp bổ trợ hữu hiệu khác là giải pháp phát huy dân chủ, trước hết là dân chủ trong nội bộ cấp ủy thông qua sinh hoạt thường trực cấp ủy, sinh hoạt thường vụ cấp ủy và sinh hoạt cấp ủy. Muốn kiểm soát quyền lực của BT-CT cấp huyện, cần có quy chế thật cụ thể để quy định rõ cấp ủy, thường vụ cấp ủy và thường trực cấp ủy được quyền nghe thông báo nội dung gì, thảo luận nội dung gì và quyết định nội dung gì, tránh tình trạng chỉ được quyền thảo luận như một hình thức tham khảo, thậm chí chỉ được quyền nghe thông báo trong các sinh hoạt định kỳ, đặc biệt tránh tình trạng được thảo luận, thậm chí được quyết định những nội dung chỉ cần nghe thông báo là đủ và ngược lại chỉ thảo luận, thậm chí chỉ nghe thông báo những nội dung nhất thiết phải được quyền quyết định. Cũng cần tổ chức thực hiện thật tốt một số chủ trương mới theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, như nêu gương và chất vấn trong Đảng...

Kiểm soát quyền lực của BT-CT cấp huyện bằng giải pháp phát huy dân chủ cũng rất cần coi trọng và phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Có người cho rằng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát mang tính nhân dân, không có hiệu lực bằng giám sát của HĐND vốn mang tính quyền lực. Thật ra, hiệu lực hay không hiệu lực tùy thuộc vào sự phân biệt giữa giám sát mang tính nhân dân với giám sát mang tính quyền lực. Hiệu lực hay không hiệu lực chủ yếu tùy thuộc vào chất lượng của giám sát trong cả hai khâu phát hiện và phản ánh. Phát hiện phải sâu sát và chính xác, đúng bản chất sự việc. Phản ánh phải tương thích với phát hiện, nghĩa là cũng phải sâu sát và chính xác, đúng bản chất sự việc như khi phát hiện, không được tùy tiện suy diễn kiểu vẽ rắn thêm chân, đặc biệt phải dũng cảm để nói những điều cần nói. Bởi có khi giám mà không sát - tức là phát hiện thiếu sâu sát dẫn đến thiếu chính xác, và cũng có khi sát mà không... dám - tức là thiếu dũng khí để phản ánh đúng lúc, đúng nơi. Giám sát mang tính nhân dân và giám sát mang tính quyền lực đều phải phát hiện và phản ánh theo những đòi hỏi nêu trên. Hiệu lực hay không hiệu lực còn chủ yếu tùy thuộc vào chất lượng của giám sát trong khâu theo dõi quá trình xử lý khắc phục sau giám sát. Nếu không kiên trì theo dõi quá trình xử lý khắc phục sau giám sát thì giám sát mang tính quyền lực cũng chẳng có hiệu lực gì; ngược lại nếu kiên trì theo dõi quá trình xử lý khắc phục sau giám sát thì giám sát mang tính nhân dân cũng có thể tạo nên áp lực với sức mạnh không kém gì quyền lực. Và trong điều kiện không tổ chức HĐND cùng cấp thì giám sát mang tính nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lại càng trở nên cần thiết.

Tuy nhiên, giải pháp bổ trợ đắc lực nhất phải là giải pháp kiểm soát quyền lực từ cấp trên. BT-CT cấp huyện là cán bộ thuộc diện ban thường vụ tỉnh ủy trực tiếp quản lý. Vì thế một giải pháp kiểm soát quyền lực hữu hiệu không thể tách rời sự vào cuộc của ban thường vụ tỉnh ủy cũng như của HĐND và UBND cấp tỉnh - tức cần có thêm giải pháp (tạm gọi là thế) thượng cấp đồng hành. BT-CT cấp huyện cần có sự cộng tác của một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị của địa phương đủ về số lượng, giỏi về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, có đạo đức công vụ và được chuyên nghiệp hóa, đặc biệt là sự cộng tác hữu hiệu của phó bí thư thường trực cấp ủy và phó chủ tịch thường trực UBND. Tuy nhiên, để đủ sức thực thi nhiệm vụ và quyền lực kép cũng như để tự kiểm soát quyền lực, BT-CT cấp huyện còn rất cần những thượng cấp - những người có thẩm quyền trong công tác cán bộ ở cấp tỉnh đã quyết định chọn người đủ tiêu chuẩn và là phương án nhân sự tối ưu để giao giữ chức vụ BT-CT cấp huyện - biết đồng hành, tức là phải thường xuyên theo dõi, đôn đốc, biểu dương, nhắc nhở, điều chỉnh quá trình thực thi công vụ của người được giao giữ quyền lực kép, hết sức tránh tình trạng “đem con bỏ chợ”, xem mọi sự đã xong sau khi công bố các quyết định nhân sự.

Chính những người có thẩm quyền trong công tác cán bộ ở cấp tỉnh - chứ không phải ai khác - phải vừa là “chân ga”, là động lực đủ để giúp BT-CT cấp huyện vươn tới đích, vừa là “chân phanh” để kìm hãm mọi sự quá đà, quá đáng của người cùng lúc hai vai vác nặng này. Muốn vậy, thượng cấp phải dựa vào các cơ quan tham mưu chuyên nghiệp về công tác xây dựng đảng, quản lý nhà nước và vận động quần chúng, đặc biệt là cơ quan tổ chức xây dựng đảng. Chính các cơ quan tham mưu chuyên nghiệp như vậy mới có thể giúp thượng cấp, bao gồm ban thường vụ tỉnh ủy và UBND tỉnh, đánh giá đúng, phân định rõ đâu là người quyết đoán và đâu là người độc đoán, đánh giá đúng, phân định rõ đâu là người thiếu bản lĩnh chính trị, do không dám chịu trách nhiệm cá nhân nên không dám làm gì ngoài khuôn khổ và đâu là người quyết không chịu vì một hoạn lộ hanh thông an toàn mà chấp nhận hôm nay làm giống y hôm qua, ngày mai làm giống hệt hôm nay, một ngày như mọi ngày, và cứ thế...

Đặc biệt, HĐND cấp tỉnh có vai trò hết sức quyết định trong quá trình thực hiện giải pháp thượng cấp đồng hành. Trong điều kiện không tổ chức HĐND cấp huyện, theo tôi nên tăng thêm cho HĐND tỉnh một số lượng đại biểu chuyên trách tương ứng với số lượng huyện không tổ chức HĐND, trước hết là ở những huyện thực hiện mô hình BT-CT. Số đại biểu chuyên trách này được biên chế vào văn phòng HĐND tỉnh như các đại biểu chuyên trách khác, nhưng mỗi tuần chỉ dành một hoặc hai buổi để sinh hoạt, hội họp tại văn phòng HĐND tỉnh, còn thời gian làm việc chủ yếu là tại từng huyện. Đại biểu chuyên trách của huyện nào sẽ đảm nhiệm vai trò đầu mối tiếp nhận kiến nghị, thông báo kết quả xử lý kiến nghị đối với cử tri trên địa bàn, đồng thời là người thu thập thông tin thực tế liên quan đến việc UBND huyện xử lý kiến nghị đối với cử tri. Đây cũng được xem là một kênh kiểm soát quyền lực trong giải pháp thượng cấp đồng hành.

Tuy nhiên, cần chú ý rằng vấn đề kiểm soát quyền lực ở đây chỉ nhằm hạn chế tình trạng chuyên quyền, lộng quyền, lạm quyền chứ không nhằm hạn chế tính chủ động và bản lĩnh quyết đoán rất cần được khuyến khích của người đứng đầu.


Bùi Văn Tiếng
UVBTV, Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy Đà Nẵng
Các bài trước
Tác giả : Đoàn Duy Thành - Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ. Đăng ngày: 07/11/2013
Tác giả : TS. Trần Thị Anh Đào - Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Đăng ngày: 07/11/2013
Các bài tiếp
Tác giả : PGS, TS. Nguyễn Minh Tuấn - Học viện CT-HC Quốc gia Hồ Chí Minh. Đăng ngày: 07/11/2013
Tác giả : Ngô Minh Giang. Đăng ngày: 07/11/2013
Theo tác giả Nguyễn Hoài Bắc (Việt kiều Ca-na-đa), việc cứu vãn nền kinh tế hiện nay chỉ có giải pháp hiệu quả nhất là hỗ trợ doanh nghiệp. Tác giả đề xuất Chính phủ và Quốc hội cần ban hành ngay một nghị quyết miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân bằng 0, thời hạn 12 tháng kể từ ngày nghị quyết ban hành; ban hành nghị quyết miễn thu tiền bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời gian 24 tháng kể từ ngày ban hành. Chính phủ chỉ đạo hệ thống ngân hàng do Nhà nước quản lý và chi phối (ngân hàng thương mại, ngân hàng cổ phần, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách…) đưa lãi suất về khoảng 3.5% - 4.0%/năm. Chính phủ đứng ra bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn, bởi thực tế hầu hết các doanh nghiệp không còn tài sản thế chấp.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: