Tư tưởng Hồ Chí Minh
Học và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ và kỷ cương
7:27' 17/4/2017



Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định“dân chủ là của cải quý báu nhất”, thực hành dân chủ “là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”[1] mà còn là Người thực hiện và đặc biệt yêu cầu việc thực hành dân chủ nghĩa với nhân dân phải gắn liền với giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật để bảo đảm cho Đảng luôn đoàn kết thống nhất, tăng cường sức mạnh. Người cảnh báo việc đảng viên không chấp hành kỷ luật, xem thường kỷ luật, không thực hành dân chủ trong Đảng là:“Không nghiên cứu nghiêm chỉnh và chấp hành đúng đắn đường lối, chính sách của Đảng, không tôn trọng pháp luật và thể lệ của Nhà nước. Tự cho mình là đúng, hành động theo ý riêng, phát biểu theo ý riêng, không báo cáo và xin chỉ thị của cấp trên, xem thường tổ chức và kỷ luật"[2]. Người nhấn mạnh, không thể có đảng viên nào trên Đảng, tự cho mình là hơn Đảng. Chính vì vậy, cần phải tạo mọi điều kiện thu hút tất cả mọi người tham gia xây dựng chủ trương, nghị quyết, xác định các mục tiêu và biện pháp thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Cần có quan điểm dân chủ, thẳng thắn, không áp đặt và cần tạo môi trường, điều kiện để mọi người có sự đối thoại, trao đổi trong quá trình hoạt động. Người chỉ rõ: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý”, “được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy”. Đối với mọi vấn đề, mọi người “cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa thông suốt, thì hỏi, bàn cho thông suốt”  và “khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân lý”[3]. Làm theo lời Bác Hồ dạy, thời gian quan, Đảng và Nhà nước ta đã định chế quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Việc tham khảo, lắng nghe ý kiến của dân về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước phải trở thành phương thức làm việc bắt buộc cả các tổ chức đảng và chính quyền từ Trung ương đến cơ sở. Phạm vi lấy ý kiến đến đâu là tùy tầm quan trọng và mối quan hệ của vấn đề đó, nhưng nhất thiết phải thực hiện. Quyết không để việc trưng cầu ý kiến trở thành một thủ tục “hữu danh vô thực”. Đối với những vấn đề mà dân chưa rõ kể cả vấn đề nhân sự cần có quy định cho mọi người dân được quyền đề nghị với Trung ương, các đồng chí lãnh đạo các ngành, địa phương giải thích, cung cấp tư liệu, trả lời chất vấn một cách công khai.

Công tác cán bộ hiện nay đang là vấn đề được người dân quan tâm nhưng còn quá nhiều bất cập.  Người dân không biết hoặc ít biết về cán bộ sẽ được đề bạt trong khi cán bộ lại có vai trò rất quan trọng đếnđời sống của từng người dân. Vì dân chủ trong công tác cán bộ chưa cao, người dân chưa có vai trò quan trọng trong việc đánh giá, đề bạt cán bộ nên vừa qua hiện tượng “chạy chức, chạy quyền”  không còn là cá biệt Không ít trường hợp tách, nhập tổ chức xuất phát từ yếu tố chủ quan, cá nhân người có thẩm quyền, lạm dụng quyền lực trong bộ máy nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan, luôn luôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên. Phải kiên quyết chống lại cái thói “cả vú lấp miệng em”, ngăn cản quần chúng phê bình. Đảng viên ở địa vị càng cao càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ. Người cũng phê phán nghiêm khắc tình trạng không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. Phớt kỷ luật và chính sách của Đảng và của Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến của cấp dưới. Xem thường chỉ thị của cấp trên. Không muốn chịu kiểm tra, không muốn nghe phê bình. Để giữ vững kỷ luật, để thực hành dân chủ thì phải nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình: Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Muốn vậy, tự phê bình và phê bình phải ráo riết, triệt để, không nể nang, không thêm, không bớt, không dùng những lời mỉa mai, cay độc, châm chọc, phải vạch rõ cả ưu điểm lẫn khuyết điểm, phê bình căn cứ vào việc làm chứ không suy diễn, quy kết, không nên đao to, búa lớn mà phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau.

Theo Người, dân chủ phải được thể hiện trong mọi hoạt động. Muốn dân chủ được thực hành rộng rãi, kỷ luật được chấp hành nghiêm túc thì phải coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, tự phê bình và phê bình, cả từ trên xuống và từ dưới lên. Người chỉ rõ: Lề lối làm việc phải dân chủ. Cấp trên phải thường xuyên kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp trên... Tự phê bình và phê bình nhau theo tinh thần thân ái và lập trường cách mệnh. Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn pha. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng, chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra. Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trăm.

Đặc điểm nổi bật của văn hóa Việt Nam là văn hóa trọng tình. Mỗi con người nói chung, đặc biệt là người Việt Nam coi trọng thực tiễn hơn lý thuyết, giàu tình cảm. Đối với người Việt Nam, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Do vậy, Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc, mọi nơi, nói phải đi đôi với làm để quần chúng noi theo. Khi địa vị càng cao, uy tín càng lớn, Người càng ra sức tự hoàn thiện mình và trong thực tế, Người đã trở thành tấm gương sáng ngời về tư tưởng và phong cách, tâm hồn và đạo đức vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ của người cộng sản mẫu mực, một nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp. Người cũng thường nhắc nhở chúng ta: Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Vì vậy, thực hiện dân chủ và kỷ luật - kỷ cương cần đặc biệt chú trọng việc đề cao trách nhiệm và sự gương mẫu của người đứng đầu.

Làm theo gương Bác, người đứng đầu đất nước, cơ quan đơn vị trước hết cần tập trung thực hiện nghiêm túc Quy định số 101 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp cả về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong; về tự phê bình, phê bình; về quan hệ với nhân dân; về trách nhiệm trong công tác. Đặc biệt nhất là về ý thức tổ chức kỷ luật, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, gương mẫu chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quyết định, sự phân công, điều động của tổ chức; đi đầu thực hiện nền nếp, chế độ sinh hoạt đảng, các nội quy, quy chế, quy định của tổ chức, cơ quan. Hết lòng chăm lo xây dựng và tăng cường đoàn kết nội bộ; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của quần chúng trong cơ quan; công tâm với cán bộ dưới quyền; hợp tác với đồng chí, đồng nghiệp để không ngừng tiến bộ. Chân thành giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp trong công tác và trong cuộc sống; bảo vệ uy tín, danh dự chính đáng của đồng chí, đồng nghiệp; không tranh công, đổ lỗi, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, khuyết điểm cho người khác và kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện chia rẽ, bè phái, gây mất đoàn kết nội bộ.

Khắc ghi lời Bác dạy: Chúng ta là những người lao động làm chủ nước nhà. Muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làm chủ. Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới... Bởi vậy, ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động, mà còn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình. Vì vậy, để thực hiện dân chủ, giữ vững kỷ luật - kỷ cương, xây dựng khối đoàn kết vững chắc, cần cụ thể hóa các quy định, chế độ chung; xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy chế hoạt động trong nhà trường. Trong đó, chú trọng tính khoa học, tính cụ thể và tính pháp l‎ý của từng bản quy chế. Tất cả các điều khoản trong quy chế cần được nghiên cứu kỹ lưỡng về nhiều mặt, được thảo luận dân chủ, đạt sự thống nhất cao khi ban hành và thực hiện nghiêm túc trong mọi hoạt động… Trong đó, ai cũng thấy được vai trò và trách nhiệm của mình để không ngừng phấn đấu vươn lên về mọi mặt trình độ kiến thức, tri thức, năng lực và ý thức làm chủ, tinh thần trách nhiệm của mình trong “phụng công thủ pháp”.

Thực hiện tốt dân chủ sẽ củng cố và giữ vững kỷ luật - kỷ cương, xây dựng được sự đồng thuận của xã hội, mối quan hệ đoàn kết nội bộ, tạo ra được sức mạnh của ý Đảng hợp với lòng dân, tạo ra sự đoàn kết chung sức đồng lòng thực hiện một mục tiêu chung dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


---------------------------------------

[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.15, Nxb CTQG, H.2011, tr.325.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.14, Sđd, tr.29.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 10, tr.378.

Phạm Thị NhungTrường Sĩ quan Lục quân 1

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 9 - 2017
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010:
VIDEO CLIPS