Đảng viên
Trà Vinh chú trọng công tác phát triển đảng viên
7:4' 11/12/2017
Hội nghị đóng góp dự thảo báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Nghị quyết năm 2017 và phương hướng, giải pháp phát triển kinh tế, xã hội năm 2018.
Đảng bộ Trà Vinh có 14 đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, 627 TCCSĐ (trong đó 193 đảng bộ cơ sở, 434 chi bộ cơ sở và 2.217 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở); với tổng số 42.111 đảng viên, chiếm 3,8% so với tổng dân số toàn tỉnh (trong đó, nữ 12.303, dân tộc thiểu số 6.807; tôn giáo 7.771; Đoàn Thanh niên 10.483; Ngành Giáo dục 8.695; Ngành Y tế 1.691; học sinh, sinh viên 195).


Tăng cường chỉ đạo

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Tỉnh ủy Trà Vinh xây dựng Nghị quyết phát triển đảng viên hằng năm của Đảng bộ. Quán triệt Quy định số 29-QĐ/TW ngày 25-7-2016 của BCH Trung ương về “Thi hành Điều lệ Đảng”; Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 20-9-2016 của Ban Bí thư về “Một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng”, Tỉnh uỷ chỉ đạo cấp ủy xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu phấn đấu, đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, khắc phục tình trạng chạy theo số lượng, không chú trọng chất lượng. Mục tiêu đặt ra là không ngừng bổ sung vào hàng ngũ của Đảng những lực lượng mới, ngày càng phát triển về số lượng và mạnh về chất lượng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ trong toàn Đảng bộ.

Trên cơ sở đó, công tác phát triển đảng viên luôn được quan tâm thực hiện với phương châm coi trọng chất lượng, tiêu chuẩn, điều kiện, nguyên tắc, thủ tục kết nạp, công nhận đảng viên chính thức đúng Điều lệ Đảng gắn với kiện toàn tổ chức đảng. Kiên quyết loại bỏ những đảng viên không đủ điều kiện, tiêu chuẩn của đảng viên, xóa tên khỏi danh sách đảng viên.

Tăng cường công tác tạo nguồn, bồi dưỡng phát triển đảng viên trong lực lượng dự bị động viên, người dân tộc, thành viên ban quản trị chùa, chức sắc, chức việc trong tôn giáo, quần chúng nữ; Chi hội trưởng phụ nữ ấp, khóm, bồi dưỡng kết nạp đối với học sinh, sinh viên, doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân, nông dân sản xuất - kinh doanh giỏi… Ban Tổ chức Tỉnh ủy có Kế hoạch số 04-KH/BTCTU ngày 13-4-2016 về “Khắc phục chi bộ ấp, khóm không có đảng viên là nữ; chi bộ ấp, khóm có đồng bào dân tộc Khmer nhưng không có đảng viên người Khmer” và Kế hoạch số 05-KH/BTCTU ngày 13-4-2016 về việc “Tạo nguồn kết nạp đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân và những người chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào Đảng”.

Kết quả đạt được

Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh, từ năm 2014 đến tháng 6-2017 các cấp ủy có thẩm quyền đã xem xét và quyết định kết nạp được 6.602 đảng viên, vượt kế hoạch Nghị quyết đề ra.

Về cơ cấu, độ tuổi đảng viên mới kết nạp cụ thể như sau: Đảng viên là đoàn thanh niên: 4.337 đảng viên (65,7%); độ tuổi từ 18 đến 30 là 4.211 (63,8%); tuổi bình quân là 23,3 tuổi; nữ: 2.769 đảng viên (41,9%); người có đạo: 782 (11,8%); người dân tộc thiểu số: 1.337 (20,3%); cán bộ, công chức 1.249 (18,9%); viên chức sự nghiệp: 1.808 (27,4%); viên chức kinh doanh: 580 (8,78%); nông dân: 1.016 (15,4%); sĩ quan, chiến sĩ Quân đội, Công an: 654 (9,9%); học sinh, sinh viên: 205 (3,1%); công nhân, lao động trong các thành phần kinh tế: 251 (3,8%).

Về trình độ học vấn: THPT: 6.024 (91,2%); THCS: 571 (8,7%); Tiểu học: 7 (0,1%).

Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Trên đại học: 127 (1,9%); đại học: 2.688 (40,7%); cao đẳng: 861 (13,3%); trung cấp: 867 (13,1%); công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ: 174 (2,6%).

Về số lượng đảng viên kết nạp lại: Từ năm 2014 đến tháng 6-2017 Ban Thường vụ Tỉnh ủy thống nhất cho kết nạp lại 13 quần chúng vào Đảng. Trong đó: Cán bộ, công chức 5 (38,5%); viên chức sự nghiệp 2 (15,4%); sĩ quan, chiến sĩ Quân đội, Công an: 6 (46,2%). trình độ học vấn: THPT: 13 (100%). Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học: 10 (90,9%); trung cấp: 1 (9,1%).

Đối với ấp, khóm chưa có đảng viên nữ đã khắc phục được 25 ấp, khóm; ấp khóm có đồng bào dân tộc Khmer nhưng không có đảng viên Khmer đã khắc phục được 57 ấp, khóm; kết nạp được 7 chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng.

Tuy công tác kết nạp đảng viên hằng năm đạt và vượt chỉ tiêu Nghị quyết đã đề ra, nhưng chưa bảo đảm về cơ cấu, đa số đảng viên mới kết nạp là cán bộ, công chức, viên chức; đảng viên ấp, khóm là nữ, dân tộc, các chi, tổ hội, phân hội, doanh nghiệp chưa đạt yêu cầu.

Một số nơi còn chạy theo chỉ tiêu, số lượng, chưa quan tâm đến chất lượng, cá nhân một số đảng viên sau khi được kết nạp vào Đảng thiếu rèn luyện, có biểu hiện sa sút ý chí phấn đấu, ý thức kỷ luật còn kém; vai trò tiền phong, gương mẫu của đảng viên chưa được đề cao; một số đảng viên ở ấp, khóm và đảng viên xuất ngũ về địa phương làm đơn xin ra khỏi Đảng hoặc xin bỏ sinh hoạt đảng đi làm ăn xa nhiều năm liền không liên lạc được dẫn đến xóa tên; một số cấp ủy xây dựng kế hoạch tạo nguồn kết nạp vào Đảng chưa sát với đặc điểm của đơn vị, địa phương; chưa gắn phát triển đảng viên với yêu cầu xây dựng đội ngũ đảng viên, thiếu thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện; đối tượng là chủ doanh nghiệp tư nhân ít muốn vào Đảng bởi do công việc sản xuất - kinh doanh nên ngại việc ràng buộc do các quy định của tổ chức đảng.

Giải pháp sắp tới

Một là, tăng cường tuyên truyền giáo dục cho hội viên, đoàn viên, quần chúng nhân dân có nhận thức sâu sắc về truyền thống vẻ vang của Đảng và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, những thành tựu trong sự nghiệp đổi mới, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao ý thức giác ngộ chính trị để có động cơ phấn đấu và tự nguyện xin vào Đảng.

Hai là, các cấp ủy phải xác định thực hiện công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên. Tiếp tục quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo, quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác phát triển đảng viên, tạo bước chuyển biến mới về nhận thức cho từng đảng viên, cấp ủy và quần chúng đối với công tác phát triển đảng viên trong tình hình mới.

Ba là, nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên, phát triển đảng viên có cơ cấu hợp lý theo từng lĩnh vực, chú ý người dân tộc, nữ, cán bộ khoa học - kỹ thuật, đoàn viên, hội viên, sinh viên, học viên, công nhân trực tiếp sản xuất, kinh doanh, người có trình độ chuyên môn cao, có thành tích xuất sắc trong các phong trào hành động cách mạng của các đoàn thể, quần chúng ở cơ sở, chủ doanh nghiệp tư nhân, chức sắc, chức việc, người có uy tín trong đồng bào dân tộc - tôn giáo. Tiếp tục chỉ đạo khắc phục tốt đối với chi bộ ấp, khóm chưa có đảng viên nữ, chi bộ ấp có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống (tỷ lệ 5% trở lên) nhưng chưa có đảng viên là người dân tộc Khmer.

Bốn là, đẩy mạnh công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên phải bảo đảm các yêu cầu đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có năng lực thực tiễn trong các phong trào quần chúng. Tập trung chỉ đạo đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các đoàn thể, nâng cao chất lượng, hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước, hướng mạnh về cơ sở để tập hợp, thu hút đoàn viên, hội viên. Phát uy dân chủ, coi trọng chất lượng, tránh tư tưởng xem nhẹ, giản đơn, hẹp hòi, định kiến đối với người xin vào Đảng. Trong tạo nguồn kết nạp đảng viên cần chú ý tập trung vào những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa còn ít hoặc chưa có đảng viên là người tại chỗ.

Năm là, ban tổ chức cấp ủy phối hợp với ban tuyên giáo cấp ủy, trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện và đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy hằng năm có kế hoạch mở lớp bồi dưỡng đối tượng đảng để bảo đảm cho cán bộ là đối tượng đảng đi học; thường xuyên kiểm tra và giúp đỡ cho cơ sở thực hiện tốt quy trình chuẩn bị hồ sơ, thủ tục kết nạp vào Đảng, bảo đảm kịp thời, chính xác, đúng nguyên tắc, quy định hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng.

Bí Thị Kiều Oanh

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 7 - 2018
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010:
VIDEO CLIPS