Trả lời bạn đọc số 6/2019 ( 30/07/2019)

Công tác cán bộ

 Ngày 26-3-2019 Đảng ủy xã P.T tổ chức hội nghị làm quy trình giới thiệu nhân sự kiện toàn chức danh Bí thư Đảng ủy xã, Tại hội nghị, Ban Thường vụ Đảng ủy xã giới thiệu đồng chí Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã P.T là nhân sự ứng cử chức danh Bí thư Đảng ủy để đưa ra thảo luận (đồng chí sinh ngày 1-1-1964). Tuy nhiên, tại hội nghị đồng chí Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy có ý kiến: Do đồng chí Phó Bí thư Thường trực sinh ngày 1-1-1964 nên tính đến tháng 3-2019 chỉ còn 4 năm 11 tháng; không đủ thời gian bổ nhiệm lần đầu vào chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định. Huyện không đồng ý với nhân sự này, yêu cầu xã giới thiệu nhân sự khác.

Vậy xin hỏi: Việc cho rằng đồng chí Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã P.T không đủ thời gian bổ nhiệm lần đầu có đúng không?

      Phạm Ngọc Bảo

      Xã Phương Trung, huyện Thanh Oai,

      TP. Hà Nội

Trả lời: Căn cứ Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, Điều 13, điểm 1 có nêu: “Thời hạn bổ nhiệm giữ chức vụ là 5 năm đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trưởng, cấp phó ở cơ quan, đơn vị trong bộ máy tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước”.

Tại thời điểm thực hiện quy trình nhân sự (tháng 3-2019), do sinh tháng 1-1964, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã P.T không đủ thời gian bổ nhiệm lần đầu là đúng.

Chức danh bí thư đảng ủy xã thuộc diện ban thường vụ huyện ủy quản lý, việc bổ sung bí thư đảng ủy cần phải đúng quy trình và người giới thiệu phải đủ tiêu chuẩn. Do vậy, ý kiến của đồng chí Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy tại hội nghị là đúng.

Chính sách cán bộ

 Thực hiện Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 4-1-2018 của Ban Bí thư về lãnh đạo Đại hội Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ IX (nhiệm kỳ 2019-2024); ở tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức xong đại hội MTTQ cấp huyện, chuẩn bị đại hội MTTQ cấp tỉnh. Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị nhân sự đại hội MTTQ cấp tỉnh có vướng mắc như sau:

Đồng chí Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh (là cán bộ nữ) sinh ngày 17-11-1964, tính đến đại hội MTTQ cấp tỉnh (tháng 7-2019), đồng chí đủ 54 tuổi 8 tháng (không đủ điều kiện tái cử về tuổi theo quy định).

Tại thời điểm tháng 4-2019 - là thời điểm chưa có thông báo nghỉ hưu, đồng chí có nguyện vọng xin nghỉ hưu trước tuổi theo Hướng dẫn số 05-HD/BTCTW, hưởng chế độ, chính sách theo Nghị định số 26/2015/NĐ-CP ở chức danh Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh, đồng thời nghỉ luôn chức danh Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy (thời điểm nghỉ hưu trước tuổi từ 1-8-2019).

Xin hỏi, trường hợp này có áp dụng thực hiện Nghị định số 26/2015/NĐ-CP được không?

          Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tuyên Quang

Trả lời: Hướng dẫn số 05-HD/BTCTW ngày 14-11-2016 của Ban Tổ chức Trung ương về thực hiện Nghị định số 26/2015/NĐ-CP của Chính phủ đối với cán bộ chuyên trách công tác ở MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội không đủ điều kiện tái cử về tuổi, quy định đối tượng áp dụng: “Cán bộ chuyên trách hiện giữ chức vụ bầu cử các cấp (từ Trung ương đến cấp xã, phường, thị trấn), của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội…”.

Theo đó, trường hợp đồng chí Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy chuyên trách kiêm Chủ tịch Ủy ban MTTQ khi không đủ điều kiện tái cử về tuổi của chức danh Chủ tịch Ủy ban MTTQ thì tiếp tục đảm nhận chức danh Trưởng Ban Dận vận Tỉnh ủy theo quy định.

Đối với những trường hợp thực hiện thí điểm trưởng ban dân vận đồng thời là chủ tịch ủy ban MTTQ ở cấp tỉnh, cấp huyện ở nơi có đủ điều kiện theo Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII), khi không đủ điều kiện tái cử về tuổi, nếu tự nguyện nghỉ hưu trước tuổi và được cơ quan có thẩm quyền đồng ý thì được xem xét áp dụng theo Nghị định số 26/2015/NĐ-CP của Chính phủ.

Như vậy, trường hợp trên được áp dụng thực hiện Nghị định số 26/2015/NĐ-CP khi được cơ quan có thẩm quyền đồng ý.

 Bố đẻ tôi là ông Nguyễn Văn Cam, sinh năm 1925 tại thôn Thọ Am, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội, ông tham gia công tác tự vệ tại TP. Hải Phòng từ tháng 8-1945, từ trần năm 1999. Bố tôi có Sơ yếu lý lịch đảng viên khai năm 1973, kết nạp vào Đảng năm 1950. Vậy bố tôi có được công nhận là người hoạt động cách mạng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 hay không?

          Nguyễn Văn Tấn

          Thị trấn Phố Ràng, Bảo Yên, Lào Cai

Trả lời:  Hiện nay, việc xét, công nhận người hoạt động cách mạng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thực hiện theo Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9-4-2013 của Chính phủ “Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng”. Theo đó, căn cứ xác nhận đối với người hoạt động cách mạng từ ngày 1-1-1945 đến ngày khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã từ trần từ ngày 1-1-1995 trở về sau là một trong các giấy tờ sau có ghi nhận thời gian tham gia hoạt động cách mạng (Khoản 3, Điều 12, Nghị định số 31/2013/NĐ-CP): Lý lịch của cán bộ, đảng viên khai từ năm 1969 trở về trước do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý; Lý lịch đảng viên khai năm 1975, 1976 theo Thông tri số 297/TT-TW ngày 20-4-1974 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa III) đối với người hoạt động cách mạng được kết nạp vào Đảng sau năm 1969 và người hoạt động liên tục ở các chiến trường B, C, K từ năm 1954 đến ngày 30-4-1975.

Hồ sơ hiện có của ông Nguyễn Văn Cam chỉ có cuốn Sơ yếu lý lịch đảng viên khai năm 1973, không được quy định làm căn cứ xác nhận. Do đó chưa đủ cơ sở để xét, công nhận người hoạt động cách mạng từ ngày 1-1-1945 đến ngày khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.



Chiều ngày 27-3, tại Hà Nội, Chi bộ Vụ Chính sách cán bộ (Đảng bộ cơ quan Ban Tổ chức Trung ương) tổ chức Đại hội nhiệm kỳ 2020-2022. Đồng chí Dương Minh Đức, Phó Bí thư Đảng ủy cơ quan, Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ cơ quan dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: