Tầm cao trí tuệ của Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân ( 21/09/2020)

             

Lịch sử chống ngoại xâm và giữ gìn toàn vẹn chủ quyền quốc gia của nước ta ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào cũng thể hiện ở hai nhân tố: Tầm cao trí tuệ của đội ngũ lãnh đạo và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Khi thực dân Pháp thống trị nước ta: “Tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa lấy tôn giáo và văn hoá làm cho dân ngu, lấy phép luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm cho dân sợ, lấy phú quý làm cho dân tham. Nó làm cho dân nghe đến hai chữ cách mệnh thì sợ rùng mình... Dân khổ quá hay làm bạo động... Dân vì không hiểu tình thế trong thế giới, không biết so sánh, không có mưu chước... Dân thường chia rẽ phái này bọn kia, như dân ta người Nam thì nghi người Trung, người Trung thì khinh người Bắc, nên nỗi yếu sức đi, như đũa mỗi chiếc mỗi nơi”(1). Biết bao cuộc nổi dậy chống Pháp xâm lược tuy vô cùng anh dũng nhưng đều thất bại đau đớn. Đất nước tối tăm như không có đường ra. Muốn tiến hành một cuộc cách mạng giải phóng thì phải có người lãnh đạo với tầm cao trí tuệ và mưu lược để trước hết làm cho dân giác ngộ, biết đường đi, biết đồng tâm hiệp lực, bền gan đấu tranh, biết đứng lên đem sức ta mà giải phóng cho ta. Muốn vậy thì “ai ai cũng phải hiểu rõ vì sao phải làm (cách mạng - tác giả chú), vì sao mà không làm không được, vì sao mà ai ai cũng phải gánh một vai, vì sao phải làm ngay không nên người này ngồi chờ người khác. Có như thế mục đích mới đồng; mục đích có đồng, chí mới đồng; chí có đồng, tâm mới đồng; tâm đã đồng, lại biết cách làm thì làm mới chóng”(2). Sứ mệnh dẫn dắt dân tộc bước lên con đường đấu tranh cách mạng giải phóng, lịch sử đã tìm thấy ở bộ phận tinh hoa nhất của dân tộc mà tiêu biểu hơn cả là Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Sau 19 năm (1911-1930) bôn ba khắp các phương trời Âu, Á, Mỹ, Phi, lao động, học tập, nghĩ suy, đấu tranh, trải nghiệm, khi đã trở thành một chiến sĩ cộng sản kiên cường trên trường quốc tế, đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc trở về dâng hiến cho Tổ quốc, nhân dân mình hai thành tựu đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam: thống nhất ba tổ chức cộng sản ở trong nước đang trong tình trạng chia rẽ, thành lập một đảng cách mạng chân chính lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với các văn kiện chính trị vượt trội so với các tư tưởng cách mạng đương thời, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng ngày 3-2-1930. Từ đó những người cộng sản Việt Nam gánh sứ mệnh lãnh đạo đấu tranh để giành độc lập tự do cho dân tộc.

Trải 10 năm với những thăng trầm của phong trào cách mạng trong nước và thế giới, đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài trở về dâng hiến cho Tổ quốc - nhân dân Việt Nam toàn bộ trí tuệ, tinh thần và sức lực, cùng toàn Đảng, toàn dân gánh vác sứ mệnh lịch sử. Người chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Đảng quyết định chuyển hướng chiến lược, tập trung vào vấn đề có ý nghĩa sống còn của dân tộc là phải giành lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc. Lời “Kính cáo đồng bào” của Người tha thiết như hồn thiêng sông núi ngàn năm vọng về: “Nay cơ hội giải phóng đến rồi... Hỡi đồng bào!... Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡi các bậc hiền huynh chí sĩ! Mong các ngài noi gương phụ lão đời nhà Trần trước họa giặc Nguyên xâm lấn, đã nhiệt liệt hô hào con em tham gia sự nghiệp cứu quốc. Hỡi các bậc phú hào yêu nước, thương nòi! Hỡi các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương! Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi, lửa nóng... Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung...”(3). Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng ấy, đồng bào ta từ Nam ra Bắc, từ miền ngược đến miền xuôi, từ đồng bằng đến hải đảo xa xôi, toàn dân tộc đã kết thành một khối, không phân biệt trẻ, già, trai, gái, dân tộc, giai cấp, giàu nghèo, sang hèn... cùng đứng trong Mặt trận Việt Minh, chớp lấy thời cơ, nhất tề nổi lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, mở ra một kỷ nguyên mới, một thời đại mới cho dân tộc Việt Nam: Thời đại dân chủ cộng hòa. Từ một đất nước bị nô lệ, lầm than, không có tên trên bản đồ thế giới, sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh nhân danh Chủ tịch chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn lịch sử, khai sinh một kiểu nhà nước mới - nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(4).

Giành được chính quyền sau hơn 80 năm mất nước là một thành quả vô cùng khó khăn. Nhưng giữ vững được chính quyền còn khó khăn gấp bội. Chính quyền non trẻ như ngàn cân treo sợi tóc rất có thể bị thù trong, giặc ngoài bóp chết một sớm một chiều nếu không có khả năng quyền biến, ứng đối cương nhu, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, trí dũng song toàn, khoan dung, độ lượng, với phương châm chiến lược lấy việc giữ vững toàn vẹn chủ quyền quốc gia làm trọng của Hồ Chí Minh cùng với sự đồng tâm hiệp lực, trên dưới một lòng của các chiến sĩ cách mạng cũng như sự hy sinh anh dũng của đồng bào cả nước từ Bắc đến Nam. Đấu tranh để tiêu diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm là ba nhiệm vụ khẩn cấp lúc bấy giờ. Lâu nay chúng ta vẫn bàn nhiều về quyết sách chính trị sáng suốt và việc thực hiện thắng lợi các quyết sách đó của Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng ta dường như ít nói tới sự sáng suốt và quyết tâm chống giặc nội xâm trong hàng ngũ của chính quyền cách mạng ngay từ ngày ấy. Chỉ có tầm cao trí tuệ và sự am tường sâu sắc các căn bệnh thâm căn cố đế, tiềm ẩn như một thứ giặc bên trong của mọi hình thái nhà nước, kể cả nhà nước công nông non trẻ của chúng ta, như Hồ Chí Minh, thì mới bảo đảm cho sự tồn tại vững vàng của thể chế chính trị tốt đẹp vừa mới được thành lập. Bài học về chống giặc nội xâm trong hàng ngũ chúng ta ngay từ khi Nhà nước dân chủ cộng hòa mới ra đời có ý nghĩa trường tồn, vẫn đang có tính thời sự nóng hổi khi Nhà nước ta bước vào tuổi 75 với một ước vọng: tiến bộ gấp nhiều lần chế độ tư bản về kỷ cương, về thể chế dân chủ và pháp quyền, về quyền tự do... được thi hành bởi một Chính phủ làm công bộc và một đội ngũ cán bộ, công chức thanh liêm, đạo đức, hết lòng tôn kính, phụng sự nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: Giặc nào cũng nguy hiểm, nhưng giặc nội xâm là nguy hiểm hơn cả vì nó liên quan trực tiếp đến thành bại của sự nghiệp chống mọi thứ giặc khác. Chống giặc nội xâm cũng giống như chống bất cứ thứ giặc nào, trước hết cần một bộ máy lãnh đạo có mưu lược và trung thành, gương mẫu, tiên phong dẫn dắt toàn dân tộc. Cấp trên, đảng viên phải đi trước, làm trước để cấp dưới, “làng nước theo sau”. Tại phiên họp ngày 31-10-1946 của kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I, sau khi được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên bố:

“Lần này... Quốc hội giao phó cho tôi phụ trách Chính phủ... Quốc hội uỷ cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận.

Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài.

Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái...

Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một chính phủ liêm khiết. Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà...”(5).

Một nguyên thủ quốc gia, một lãnh tụ của Đảng đồng thời là lãnh tụ của dân tộc đã đọc lời tuyên bố có sức cảm hoá và thu phục lòng người đến vậy là bởi phía sau những lời nói bình dị ấy được bảo đảm bằng cả cuộc đời trong sáng, không tỳ vết bởi cái tôi vị kỷ, bởi thói tham quyền cố vị, thăng quan phát tài...

Một lãnh tụ của đảng cầm quyền, một nguyên thủ quốc gia đồng thời là người đứng đầu Chính phủ có tâm và có tầm mới đủ tự tin tuyên bố như vậy và mới đủ tín nhiệm và quyền uy để nói những điều răn dạy cho toàn thể cán bộ, công chức trong hệ thống công quyền ngay từ khi mới có chính quyền như sau:

“Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(6). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra kẻ thù bên trong làm suy thoái nền chính sự quốc gia, đó là những hành vi trái phép nước, coi thường pháp luật, cố tình lách luật; là cậy thế mình ở trong bộ máy nhà nước rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao làm vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân; là ngày càng sa đọa, thoái hoá, xa xỉ, tham nhũng, chiếm đoạt của công; là óc quân phiệt, quan liêu, hình thức chủ nghĩa; là kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ, người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc nước là việc công chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai; là kiêu ngạo, tưởng mình ở trong cơ quan chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân, lúc nào cũng vác mặt “quan cách mạng” lên. Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên nhủ ai chưa mắc những sai lầm đó thì tránh đi, ai đã phạm thì cố gắng sửa chữa. Nhưng Người cũng nghiêm khắc tuyên bố “nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”(7). Người kịch liệt phê phán sự dung túng, kỷ luật hình thức để che mắt dân, đánh lừa dư luận như tình trạng “nhiều nơi các đồng chí phạm lỗi, nhưng không bị trừng phạt xứng đáng, có đồng chí bị hạ tầng công tác nơi này, đi nơi khác lại ở nguyên cấp cũ hay chỉ bị hạ tầng công tác theo hình thức, nhưng vẫn ở cấp bộ cũ làm việc. Có đồng chí đáng phải trừng phạt, nhưng vì cảm tình nể nang chỉ phê bình, cảnh cáo qua loa cho xong chuyện. Thậm chí còn có nơi che đậy cho nhau, tha thứ lẫn cho nhau, lừa dối cấp trên, giấu giếm đoàn thể”(8).

Đọc lại những dòng trên đây, đối chiếu với thực trạng của bộ máy công quyền hiện nay, chúng ta không thể hiểu được tại sao trong khi toàn Đảng, toàn dân ta đang học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đẩy mạnh chống quan liêu, tham nhũng thì có một bộ phận cán bộ, đảng viên kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao lại hư hỏng, biến chất đến mức vướng vào vòng lao lý. Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Đẩy mạnh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền”; “Phải kiên trì thực hiện tốt vừa xây, vừa chống trong phòng, chống tham nhũng. Khẩn trương xây dựng và thực hiện kiên quyết hệ thống pháp luật đồng bộ về phòng ngừa, phát hiện và xử lý những người có hành vi tham nhũng”; “Xử lý nghiêm minh, kịp thời, công khai cán bộ, công chức tham nhũng, không phân biệt chức vụ và địa vị xã hội còn đương chức hay nghỉ việc” và “... ban hành và thực hiện quy định để xử lý thích đáng đúng pháp luật người đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi xảy ra tham nhũng, gây hậu quả nghiêm trọng”(9).

Năm 1946, đội ngũ cán bộ, công chức của ta lúc ấy còn rất trẻ, ngày 17-1, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những lời khuyên chân tình đối với anh em cán bộ, viên chức là phải có bốn đức tính cần, kiệm, liêm, chính: “Có cần, có kiệm, không tiêu đến nhiều tiền, anh em viên chức mới có thể trở nên liêm chính để cho người ngoài kính phục”. Nhưng để duy trì phép nước một cách công minh, khích lệ người tốt, trừng phạt kẻ xấu nên chỉ 9 ngày sau đó (ngày 26-1), Người đã ký ban hành Quốc lệnh gồm có 10 điều thưởng, trong đó ghi: “Ai làm việc công một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng. Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc và được dân chúng mến phục sẽ được thưởng... ” và 10 điều phạt, trong đó có: “Trộm cắp của công sẽ bị xử tử; Hãm hiếp, cướp bóc sẽ bị xử tử”…(10). Nhờ vậy đội ngũ cán bộ, công chức của Nhà nước ta ngày một trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, số người tốt, người làm được việc ngày một nhiều hơn, giỏi hơn, tốt hơn.

Lịch sử đi qua không chỉ để lại những thành tựu cho thế hệ sau ngưỡng mộ, ngợi ca, mà quan trọng hơn cả là để lại những bài học cho hậu thế. Tổ quốc ta, Nhân dân ta đời đời biết ơn và tự hào về cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại! Tổ quốc ta, Đảng ta, Nhà nước và Nhân dân ta lại càng tự hào hơn nữa vì có một gia tài vô giá là những bài học mà những người làm nên cuộc cách mạng ấy để lại.

Tầm cao trí tuệ và sự đoàn kết dân tộc để chống giặc đói, nghèo, lạc hậu, giặc dốt, giặc ngoại xâm là vô cùng quan trọng nhưng quan trọng hơn cả, quyết định nhất vẫn là chống giặc nội xâm - chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, tranh giành địa vị... Vì, như V.I.Lê-nin đã nói, chính những cái đó có nguy cơ làm tiêu vong sự nghiệp cách mạng. Chính nó là quốc nạn, là nguy cơ, là nguyên nhân cơ bản của tình trạng mất lòng tin của Nhân dân, mà mất lòng tin của Nhân dân là mất tất cả.

-----

(1), (2) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2011, tập 2, tr.282, 288-289. (3) Sđd, tập 3, tr.230. (4), Sđd, tập 6, tr.587. (5), (6), (7), (10) Sđd, tập 4, tr.478, 64-65, 66, 190. (8) Sđd, tập 5, tr.89-90. (9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB CTQG, H.2006, trang 253, 255, 256, 257, 496.



TS. Nguyễn ngọc ánh
Viện Xây dựng Đảng
Các bài trước
Tác giả : ***. Đăng ngày: 21/09/2020
Các bài tiếp
Tác giả : MAI ANH. Đăng ngày: 21/09/2020
Tác giả : ĐINH THÀNH. Đăng ngày: 21/09/2020
Tác giả : Thanh Xuân. Đăng ngày: 21/09/2020
Tác giả : Ngô Khiêm. Đăng ngày: 21/09/2020
Tác giả : ThS. ĐỖ Xuân Trường Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam - TS. Đỗ Khánh Chi Đại học Phenikaa. Đăng ngày: 21/09/2020
Cơ hội luôn có trong mọi tình huống dù là thanh bình hay nguy nan, nhưng để nắm bắt “cơ hội” trong “nguy cơ” mới là điều khó, mới cần lãnh đạo tài năng, mạnh khoẻ, nhiệt huyết, vì lợi ích của nhân dân, của quốc gia là tối thượng.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: