Chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động: Thực trạng và định hướng cải cách

Chính sách bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định xã hội, góp phần phát triển bền vững đất nước. Ở Việt Nam, trải qua nhiều giai đoạn cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, nhất là từ sau khi khi Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực, việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục được cải cách trong thời gian tới.


Về chính sách bảo hiểm xã hội

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), bản chất bảo hiểm xã hội (BHXH) là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên trong xã hội thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với các rủi do xã hội, trước hết là khó khăn về kinh tế - xã hội do bị ngừng hoặc giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết; cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

Xu hướng chung của thế giới tiếp cận chính sách BHXH trên cơ sở thực hiện và bảo đảm quyền con người, theo hướng phổ quát (BHXH toàn dân). Từ đó, thiết kế chính sách BHXH đa tầng, theo nguyên tắc đóng - hưởng, có sự chia sẻ, trên cơ sở hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung, được nhà nước bảo hộ và tham gia đầu tư phát triển bền vững quỹ.

Mỗi quốc gia có thể lựa chọn mô hình BHXH đa tầng với những chính sách BHXH cụ thể, phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển kinh tế - xã hội đất nước, từng bước tiếp cận chuẩn mực quốc tế trong quá trình hội nhập. Nhưng xu hướng chung là hình thành một hệ thống tích hợp BHXH đa tầng để hỗ trợ và bổ sung cho nhau nhằm bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) cho mọi người dân, bao gồm: 1- Bảo hiểm hưu trí cơ bản hay hưu trí quốc gia (tầng thấp nhất) theo hướng phổ quát, còn gọi là hưu trí xã hội; 2- BHXH của người lao động theo quan hệ đóng - hưởng, có sự chia sẻ; 3- BHXH bổ sung tự nguyện trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, hoặc hình thức tiết kiệm cho mục đích hưu trí... Trong hệ thống BHXH đa tầng, thì BHXH theo nguyên tắc đóng - hưởng, có sự chia sẻ vẫn là tầng được coi là cơ bản và diện rộng nhất. Tầng này được thiết kế theo mô hình tọa thu, tọa chi (Pay as you go) theo luật định về các thông số đóng được xác định (DC - Defined Contribution), thông số hưởng được xác định (DB - Defined Benefit), kết hợp với tài khoản cá nhân. Tuy nhiên, hệ thống BHXH đa tầng chỉ nên hướng tới bảo hiểm hưu trí với lợi ích khiêm tốn, nhưng có độ bao phủ rộng, hướng tới BHXH toàn dân và bền vững. Chính sách BHXH cần có tầm nhìn dài hạn 30 - 50 năm và lâu hơn. Đầu tư cho BHXH là đầu tư vào vốn con người, đầu tư cho phát triển bền vững.

Thực trạng chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành

Những kết quả đạt được:

Thứ nhất, nhận thức, chủ trương, quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về BHXH ngày càng rõ và thống nhất, coi BHXH là một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống ASXH đa tầng, linh hoạt và có thể hỗ trợ nhau. BHXH được từng bước đổi mới gắn kết hơn với hệ thống ASXH đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ. Chính sách BHXH hướng vào phát triển con người, thực hiện công bằng xã hội, góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước.

Thứ hai, trách nhiệm của Nhà nước về tạo khung pháp lý bảo đảm vận hành hệ thống BHXH hiệu quả được thể hiện rõ. Nhà nước đã từng bước thể chế hóa hệ thống chính sách, pháp luật BHXH phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong từng giai đoạn. Về tổng thể, chính sách BHXH qua nhiều lần cải cách được hình thành với những giá trị cốt lõi, cơ bản, đúng hướng là: 1- Thực hiện quan hệ đóng - hưởng, có sự chia sẻ; 2- Hình thành Quỹ BHXH độc lập tách khỏi ngân sách nhà nước; có sự đóng góp của các chủ thể (Nhà nước, người sử dụng lao động, người lao động) và được Nhà nước bảo hộ, được tham gia đầu tư sinh lời để bảo toàn và phát triển Quỹ; 3- Hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam được thành lập và tách ra khỏi hệ thống quản lý nhà nước về BHXH, thực hiện chức năng thu - chi BHXH, hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ.

Thứ ba, chính sách BHXH được xây dựng theo hướng đa dạng, đồng bộ và toàn diện, bao gồm BHXH bắt buộc với 5 chế độ, BHXH tự nguyện với 2 chế độ, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Phạm vi đối tượng dần được mở rộng, tác động đến tất cả các chủ thể liên quan, có mối liên kết chặt chẽ, thống nhất hơn và có khả năng hỗ trợ nhau. Chính sách BHXH trong quá trình hội nhập đã tiếp cận dần các chuẩn mực quốc tế, từng bước nội luật hóa các công ước quốc tế, đặc biệt là Công ước 102 của ILO về quy phạm ASXH tối thiểu, theo hướng từng bước thực hiện các quyền cơ bản của công dân, người lao động được bảo đảm ASXH. Chính sách BHXH cơ bản phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng huy động, cân đối nguồn lực theo nguyên tắc đóng - hưởng, sự hỗ trợ của Nhà nước, có sự chia sẻ, đồng thời thường xuyên được bổ sung, sửa đổi hoàn thiện.

Thứ tư, quản lý nhà nước về BHXH được tăng cường, quản trị hệ thống BHXH ngày càng hiệu quả hơn. Việc tách chức năng quản lý nhà nước về BHXH với hoạt động tổ chức thực hiện chính sách BHXH của cơ quan BHXH Việt Nam thông qua cung cấp dịch vụ BHXH của đơn vị sự nghiệp công lập là đúng hướng, phù hợp với thông lệ quốc tế, đi vào chuyên môn hóa và chuyên nghiệp. Mô hình này vừa phát huy được vai trò của Nhà nước trong thiết kế, xây dựng, hoạch định và giám sát, đánh giá quá trình tổ chức thực hiện chính sách BHXH, vừa nâng cao hiệu quả việc đưa chính sách BHXH vào cuộc sống của tổ chức BHXH Việt Nam, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người lao động dễ tiếp cận dịch vụ BHXH.

Thứ năm, chính sách BHXH đã và đang phát huy tác dụng tích cực trong đời sống xã hội. Đối tượng tham gia BHXH tăng. Theo báo cáo của BHXH Việt Nam, tính đến ngày 31-12-2017, tổng số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đạt 13,59 triệu người, tăng gấp khoảng 6 lần so với năm 1995 (khi Bộ luật Lao động đầu tiên có hiệu lực) và 1,95 lần so năm 2007 (khi Luật BHXH có hiệu lực). Quỹ BHXH không ngừng phát triển, số thu Quỹ BHXH tăng, năm 2016 số thu tăng gấp gần 7 lần so với số thu năm 2007. Số thu hiện nay bảo đảm cân đối chi trả và có kết dư. Giai đoạn 2010 - 2017 tổng kết dư Quỹ Hưu trí, tử tuất khoảng trên 400 nghìn tỷ đồng, tốc độ gia tăng kết dư Quỹ này bình quân trên 20%/năm (năm 2017, số thu là 168.364 tỷ đồng, số chi là 110.583 tỷ đồng, chiếm 65,68%). Nguồn chi ngân sách nhà nước cho chế độ hưu trí, tử tuất trong tổng chi hưu trí, tử tuất giảm dần, nếu năm 2007 chiếm 56,2%, thì đến năm 2017 giảm chỉ còn chiếm 24,5%.

Tuy nhiên, chính sách BHXH đến nay cũng đã bộc lộ những mâu thuẫn, bất cập:

Một là, hệ thống BHXH vẫn chưa hoàn chỉnh, chưa thật gắn kết chặt chẽ hữu cơ với hệ thống các tầng ASXH (việc làm, thu nhập và giảm nghèo bền vững, BHXH, trợ giúp xã hội và các dịch vụ xã hội tối thiểu) và trong mối quan hệ giữa đóng góp của người hưởng lợi với hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Đặc biệt, chưa có sự gắn kết và hỗ trợ của bảo hiểm thất nghiệp để giúp người lao động trở lại thị trường lao động nhằm duy trì và mở rộng độ bao phủ BHXH; chưa phát triển hình thức BHXH bổ sung trên cơ sở thỏa thuận trong các doanh nghiệp, bảo hiểm hưu trí tiết kiệm; chưa hình thành tầng hưu trí cơ bản có tính phổ quát (hưu trí xã hội)...

Hai là, mô hình BHXH tọa thu, tọa chi hiện hành trên cơ sở lấy số thu BHXH của người đang đi làm để chi trả lương hưu cho người đã nghỉ hưu thông qua “mức đóng được xác định (DC) và “mức hưởng được xác định” (DB), đến nay có những mâu thuẫn, bất cập: 1- Chưa quán triệt và thực hiện đầy đủ nguyên tắc đóng - hưởng mà còn gắn chặt việc điều chỉnh lương hưu với tiền lương tối thiểu (nay là tiền lương cơ sở) và hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; 2- Thông số đóng (DC) và hưởng (DB) theo Luật BHXH năm 2014 để hưởng lương hưu chưa hợp lý: Quy định điều kiện thời gian tối thiểu 20 năm đóng BHXH để được hưởng lương hưu là quá dài (quốc tế thường quy định thấp hơn, khoảng 10 năm); tỷ lệ tích lũy 2% cho 1 năm tăng thêm đóng BHXH sau khi đủ điều kiện đóng để hưởng lương hưu và mức hưởng tối đa 75% là khá cao (quốc tế chỉ khoảng 1,5% cho mỗi năm tăng thêm và hưởng tối đa khoảng 60%); điều kiện tuổi hưởng lương hưu đối với nam đủ 60 tuổi, đối với nữ đủ 55 tuổi được quy định từ năm 1960 đến nay vẫn chưa thay đổi, trong khi tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam tăng, năm 2017 là 73,4 tuổi và xu hướng già hóa dân số nhanh; 3- Với các chính sách, chế độ BHXH hiện hành sẽ dẫn đến nguy cơ mất cân đối Quỹ Hưu trí và tử tuất trong dài hạn. Hiện nay tương quan giữa số người đóng và số người hưởng có xu hướng giảm nhanh: năm 1996, có 217 người đóng cho 1 người hưởng chế độ hưu trí, đến 2006 (sau 10 năm) con số này là 12,6/1 và đến năm 2017 giảm xuống 8,2/1. Số năm bình quân đóng BHXH vào Quỹ Hưu trí và tử tuất của người tham gia là 28 năm với tỷ lệ đóng 22%, trong khí số năm bình quân hưởng lương hưu là 25 năm với tỷ lệ hưởng bình quân 70,1%. Việc điều chỉnh lương hưu theo tốc độ tăng tiền lương khu vực hành chính, sự nghiệp đã làm gia tăng chi từ ngân sách nhà nước và áp lực lên Quỹ BHXH, đồng thời phát sinh những bất hợp lý mới.

Ba là, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHXH chưa bảo đảm thống nhất vào một đầu mối, chuyên môn hóa và chuyên nghiệp, hiện đại trên cơ sở áp dụng công nghệ cao (chính phủ điện tử). Năng lực cán bộ còn bất cập, chuyên gia đầu ngành ít. Cơ sở dữ liệu quốc gia về BHXH trong hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về ASXH chưa được xây dựng. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát còn hạn chế, số cuộc thanh tra, kiểm tra còn ít so với số lượng các đơn vị tham gia BHXH bắt buộc. Việc chuyển cơ quan BHXH Việt Nam sang mô hình cung cấp dịch vụ công, tự chủ và tự chịu trách nhiệm chưa triệt để, hoạt động đôi khi vẫn còn mang tính hành chính, công chức hóa, bao cấp; mức độ thân thiện với doanh nghiệp và người lao động còn hạn chế so với bảo hiểm thượng mại. Sự tham gia giám sát của các tổ chức xã hội, nhất là tổ chức công đoàn cơ sở, về thực hiện chính sách BHXH theo cơ chế 2 bên còn yếu.

Bốn là, đối tượng tham gia BHXH có xu hướng tăng nhưng vẫn chưa đạt được yêu cầu mục tiêu đặt ra. Đến tháng 12-2017, mới có 36,5% số doanh nghiệp đang hoạt động (khu vực chính thức, có quan hệ lao động) và 80% số lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc tham gia BHXH. Nông dân và khu vực phi chính thức, không có quan hệ lao động có khoảng 40 triệu lao động, nhưng sau 10 năm triển khai chính sách BHXH tự nguyện, số người tham gia chỉ khoảng 300 nghìn. Tổng thể, độ bao phủ BHXH còn thấp. Tính đến năm 2017 độ bao phủ BHXH chiếm khoảng 30,35% trong tổng số 48,2 triệu lao động trong độ tuổi, còn nếu so với tổng lực lượng lao động là 54,8 triệu người thì tỷ lệ này chỉ chiếm 24,85%. Và như vậy, để đạt mục tiêu độ bao phủ 50% lực lượng lao động vào năm 2020 tham gia BHXH theo Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 1-6-2012, được thông qua tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” là một thách thức rất lớn, khó có thể đạt được.

Định hướng cải cách chính sách bảo hiểm xã hội trong thời gian tới

Về quan điểm:

Một là, tiếp tục quán triệt và cụ thể hóa quan điểm của Đảng coi BHXH là một trụ cột chính của hệ thống ASXH trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, hiến định của Hiến pháp năm 2013 “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng và ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước.

Hai là, xây dựng và phát triển hệ thống tích hợp chính sách BHXH đa dạng, đa tầng, linh hoạt, có thể hỗ trợ nhau và tiếp cận các chuẩn mực quốc tế trong tổng thể hệ thống chính sách ASXH, có sự chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ.

Ba là, cải cách chính sách BHXH trên cơ sở kế thừa, đổi mới mô hình BHXH, điều chỉnh hợp lý các thông số đóng (DC) và thông số hưởng (DB) bảo đảm công bằng, hài hòa giữa đóng và hưởng, có sự chia sẻ và bền vững, tiến tới bao phủ toàn dân với lộ trình phù hợp trình độ phát triển kinh tế - xã hội; đặt trong mối tương quan, gắn kết với chính sách tiền lương, thu nhập, trợ giúp xã hội; kết hợp phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc Việt Nam và tính hiện đại của hệ thống chính sách ASXH, trong đó có chính sách BHXH nhằm không một ai bị để lại phía sau.

Bốn là, tiếp tục đổi mới quản lý BHXH theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và hội nhập quốc tế. Chuyển mạnh tổ chức BHXH Việt Nam sang đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công, tự chủ, lấy phục vụ lợi ích khách hàng (doanh nghiệp, người dân, lao động...) làm trung tâm trong triển khai thực hiện chính sách BHXH. Áp dụng công nghệ cao trong quản lý, quản trị BHXH, nhất là quản lý đối tượng, thu - chi BHXH; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu BHXH nối mạng quốc gia.

Năm là, thực hiện hiệu quả chính sách BHXH là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm quản lý của Nhà nước và quản trị BHXH của cơ quan BHXH Việt Nam. Phát huy dân chủ, sự tham gia của cộng đồng, nhất là các đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và người lao động, mỗi người dân. Cải cách mạnh thủ tục hành chính theo hướng thân thiện với người dân, tiếp cận thuận lợi chính sách, chương trình BHXH.

Về mục tiêu:

Mục tiêu tổng quát là phát triển hệ thống BHXH đa tầng, linh hoạt, hiện đại, bền vững và tiếp cận chuẩn mức quốc tế, theo nguyên tắc đóng - hưởng, có sự chia sẻ, gắn kết trong tổng thể hệ thống ASXH, tiến tới thực hiện BHXH toàn dân.

Mục tiêu cụ thể: 1- Mở rộng đối tượng tham gia BHXH chiếm phần lớn lực lượng lao động trong độ tuổi lao động, phấn đấu đến năm 2021 đạt 35%, đến 2025 đạt 45%, đến 2030 đạt 55 % và sau 2030 đến 2050 đạt 75% - 85%. 2- Thực hiện chính sách lương hưu xã hội đối với người sau độ tuổi nghỉ hưu không có lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp xã hội hằng tháng (hiện nay khoảng trên 5 triệu người) với lộ trình đạt 5% (khoảng 250 nghìn người) vào năm 2021, đạt 15% (khoảng 750 nghìn người) vào năm 2015 và 25% (khoảng 1,25 triệu người) vào năm 2030, đạt 60% - 65% từ sau năm 2030 đến 2050. 3- Bảo đảm giai đoạn 2021 - 2030 giảm đáng kể mất cân đối quỹ hưu trí và tử tuất, không còn phải chi từ ngân sách nhà nước; sau năm 2030 phát triển bền vững, cân đối Quỹ Hưu trí và tử tuất, có kết dư trong dài hạn. 4- Giai đoạn 2021 - 2030, cơ bản đạt được sự hài lòng của người dân (khoảng 80%) về một hệ thống chích sách BHXH thân thiện, hiệu quả, có khả năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục các rủi ro về đời sống đối với người lao động.

Định hướng nội dung:

Thứ nhất, xây dựng và phát triển hệ thống BHXH đa tầng hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân.

Xây dựng và phát triển hệ thống BHXH đa tầng, gắn kết bền vững với hệ thống ASXH, theo nguyên tắc đóng - hưởng, có chia sẻ, theo 2 hướng: 1- Mở rộng độ bao phủ nhằm bảo đảm quyền của công dân, người lao động tham gia BHXH (bao phủ đại bộ phận lực lượng lao động). Toàn bộ người lao động trong độ tuổi lao động theo luật định đều đăng ký tham gia BHXH. 2- Nâng cao chất lượng các chính sách, chế độ BHXH đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của người tham gia và hưởng lợi.

Thứ hai, điều chỉnh các tham số đóng (DC) - hưởng (DB) bảo hiểm hưu trí và tử tuất.

- Có thể giữ mức đóng bảo hiểm hưu trí và tử tuất cho lao động loại 1 như hiện nay là 22%. Tuy nhiên, cần xem xét bảo đảm công bằng tỷ lệ đóng giữa người sử dụng lao động và người lao động khi mức lương và thu nhập của người lao động đóng BHXH tăng lên, quan hệ này có thể là: Người sử dụng lao động đóng 12% (nay đang đóng 14%) và người lao động đóng 10% (nay đang đóng 8%). Đối với lao động loại 2 cần tính toán đến khả năng đóng và khi nghỉ hưu có lương hưu bảo đảm thấp nhất cũng bằng mức sống tối thiểu theo “sàn mức lương hưu tối thiểu” do Chính phủ quy định.

- Thay đổi căn cứ tiền lương, thu nhập đóng BHXH của lao động khu vực thị trường (có quan hệ lao động) theo hướng người lao động có quyền đăng ký các mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH trong giới hạn mức thấp nhất và cao nhất quy định. Nhà nước quy định mức thấp nhất bằng tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương thực lĩnh của người lao động và cao nhất không quá 10 lần mức tiền lương tối thiểu vùng bình quân để tăng tính linh hoạt và giảm tình trạng lách luật, né tránh đóng BHXH của doanh nghiệp.

- Tăng điều kiện độ tuổi được hưởng lương hưu giai đoạn 2021 - 2030 lên nam đủ 62 tuổi và nữ đủ 60 tuổi, không đồng loạt và theo lộ trình phù hợp với với các yếu tố tăng trưởng kinh tế với bài toán về việc làm và thất nghiệp; sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực; trình độ kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất; số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số; bình đẳng giới; xu hướng già hóa dân số; tính chất, loại hình lao động và giữa các ngành, nghề, lĩnh vực; cân đối Quỹ BHXH trong dài hạn.

- Giảm số năm đóng BHXH tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí từ 20 năm xuống 10 năm; giảm tỷ lệ tích lũy đối với mỗi năm đóng BHXH theo Luật BHXH năm 2014 từ 2%/năm xuống 1,5%/ năm và giảm tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa từ 75% xuống còn 65% theo lộ trình tương ứng với tiền lương, thu nhập đóng BHXH được nâng cao để không làm giảm lương hưu của người lao động.

- Công thức tính lương hưu được điều chỉnh theo hướng vừa bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng, vừa bảo đảm nguyên tắc chia sẻ giữa những người tham gia BHXH. Phần người sử dụng lao động hoặc Nhà nước đóng cho người lao động được dùng để điều tiết chung trong công thức tính lương hưu, còn phần người lao động đóng hạch toán theo tài khoản cá nhân sẽ được tính riêng để được hưởng khi nghỉ hưu. Nếu người lao động ra khỏi hệ thống BHXH chưa đến tuổi nghỉ hưu hưởng trợ cấp BHXH một lần thì chỉ được hưởng trợ cấp trên cơ sở mức đóng BHXH theo tài khoản cá nhân.

- Điều chỉnh tăng lương hưu dựa trên chỉ số tăng giá sinh hoạt và một phần tăng trưởng kinh tế thể hiện ở khả năng của Quỹ BHXH và ngân sách nhà nước (đối với loại lao động do Nhà nước bảo đảm các chế độ BHXH) và độc lập tương đối với điều chỉnh tiền lương của lao động đang làm việc. Phần tỷ lệ tăng lương hưu theo chỉ số giá sinh hoạt được tính cho mọi người hưu trí, còn phần tỷ lệ tăng do tăng trưởng kinh tế có sự chia sẻ tỷ lệ tăng cao hơn cho người có mức lương hưu thấp và về nghỉ hưu trước năm 1995.

Thứ ba, phát triển Quỹ BHXH bảo đảm cân đối trong dài hạn, nhất là Quỹ Hưu trí và tử tuất.

- Điều chỉnh các thông số đóng (DC) và hưởng (DC), tăng độ tuổi được hưởng lương hưu,... như trên để bảo đảm cân đối quỹ ngay trong thiết kế chính sách BHXH.

- Mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên cơ sở chính thức hóa việc làm khu vực phi chính thức, nền kinh tế chia sẻ; quy định chặt chẽ điều kiện hưởng BHXH một lần để hạn chế tối đa số đối tượng đã tham gia BHXH sớm ra khỏi hệ thống.

- Quy định chính sách ưu đãi đặc biệt đối với đầu tư Quỹ BHXH nhàn rỗi vào những lĩnh vực, dự án có hiệu quả, sinh lời cao nhưng ít rủi ro để tăng trưởng Quỹ.

Thứ tư, hoàn thiện tổ chức quản lý và quản trị BHXH tinh gọn, chuyên môn hóa, chuyên nghiệp, hiên đại, hiệu lực, hiệu quả và hội nhập quốc tế.

- Tổ chức, sắp xếp lại bộ máy quản lý nhà nước tập trung vào một đầu mối; xác định rõ vị trí việc làm và xây dựng chức danh, tiêu chuẩn tương ứng; đào tạo nguồn nhân lực quản lý BHXH trình độ và chất lượng cao nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước về lĩnh vực ASXH, bao gồm cả BHXH, nhất là năng lực xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách, pháp luật BHXH, giám sát, đánh giá, kiểm tra, thanh tra thực hiện chính sách BHXH theo kết quả đầu ra; hiện đại hóa công nghệ quản lý BHXH trên cơ sở xây dựng chính phủ điện tử.

- Phát triển hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam tinh gọn, theo vùng, chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế; thành lập tổ chức tài chính chuyên nghiệp đầu tư BHXH; tiếp tục chuyển mạnh cơ quan BHXH sang mô hình cung cấp dịch vụ công, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, lấy khách hàng làm trung tâm phục vụ, không hành chính hóa, công chức hóa và bao cấp.

- Hoàn thiện và nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu BHXH thống nhất và nối mạng quốc gia liên thông trên pham vi cả nước; phát triển hệ thống quản lý đối tượng tham gia BHXH, quản lý Quỹ BHXH (thu - chi, đầu tư tăng trưởng Quỹ BHXH),... trên cơ sở áp dụng công nghệ cao./.

TS. Nguyễn Hữu Dũng
Nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Xem nhiều nhất