Xây dựng cơ chế kiểm soát việc trao và thực thi quyền lực của người đứng đầu trong điều kiện nhất thể hóa

Bài 1: Thực thi quyền lực của người đứng đầu trong điều kiện nhất thể hóa

"Nhất thể hoá" hai chức danh bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp mới có chủ trương thực hiện từ Nghị quyết Trung 5 khoá IX nên còn nhiều vấn đề cần phải làm sáng tỏ, nhất là trình độ, năng lực và việc kiểm soát quyền lực của người đứng đầu.

Về "nhất thể hoá" hai chức danh bí thư cấp uỷ hoặc phó bí thư cấp uỷ (thường là phó bí thư thường trực) đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân cùng cấp đã được thực hiện từ lâu. Về lý luận, hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, các kỳ họp đều diễn ra sau các kỳ họp thường kỳ của cấp uỷ (1 năm 2 kỳ họp); mặt khác, cấp uỷ và hội đồng nhân dân đều làm việc theo cơ chế tập thể. Việc "nhất thể hoá" hai chức danh này giúp cấp uỷ nắm và lãnh đạo trực tiếp hội đồng nhân dân về các định hướng, chủ trương lớn của cấp uỷ được đưa ra hội đồng nhân dân bàn nên chủ trương của cấp uỷ, nghị quyết của hội đồng nhân dân đi vào thực tế nhanh và hiệu quả.

Còn "nhất thể hoá" hai chức danh bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp mới có chủ trương thực hiện từ Nghị quyết Trung 5 khoá IX nên còn nhiều vấn đề cần phải làm sáng tỏ, nhất là trình độ, năng lực và việc kiểm soát quyền lực của người đứng đầu.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn và nhằm tiếp tục hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới công tác cán bộ, một số tỉnh đã chỉ đạo và tổ chức thực hiện thí điểm chủ trương đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã (phường, thị trấn) từ rất sớm (xã Dân Chủ, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, tháng 6-2000; xã Mỹ Khánh, Phường Bình Đức, xã Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, năm 2002…).

Đặc biệt, từ khi Hội nghị Trung ương 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 02-02-2008 về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở; để thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị khoá X đã ban hành Thông báo số 223-TB/TW (ngày 24-02-2009), Ban Tổ chức Trung ương ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BTCTW (ngày 06-3-2009) về thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW nêu trên. Các địa phương đã chỉ đạo thực hiện mạnh mẽ việc “nhất thể hóa” hai chức danh bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân ở một số xã, phường, thị trấn: các tỉnh ủy, thành ủy đã tổ chức hội nghị để nghiên cứu, quán triệt nội dung các văn bản; xây dựng kế hoạch, ban hành các văn bản chỉ đạo của cấp mình và lựa chọn một số địa phương có đủ điều kiện để thực hiện thí điểm theo tinh thần chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương. Đa số các địa phương triển khai thực hiện thí điểm từ tháng 4-2009. Nhiều tỉnh ủy, thành ủy đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện thí điểm do đồng chí phó bí thư thường trực cấp ủy làm trưởng ban; thành lập các tổ công tác do đồng chí ủy viên ban thường vụ làm tổ trưởng, có đại diện lãnh đạo và một số cán bộ, chuyên viên các ban xây dựng Đảng, một số cơ quan chuyên môn liên quan thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện tham gia để giúp cấp ủy chỉ đạo, hướng dẫn, giúp đỡ các địa phương thực hiện thí điểm trong quá trình triển khai thực hiện.

Đến cuối năm 2016 đã có 16 quận, huyện (04 quận, 12 huyện) thực hiện chủ trương đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân; 638 xã, phường, thị trấn thực hiện thí điểm đồng chí bí thư đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân. Vừa qua, một số xã, phường, thị trấn đã xin thôi mô hình này, chủ yếu là do cán bộ chưa đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Mô hình bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp đã phát huy ưu điểm nổi bật như: 

- Đã góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy; vừa là người trực tiếp tiếp thu các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cấp ủy cấp trên, vừa là người trực tiếp chỉ đạo ủy ban nhân dân, hệ thống chính trị ở cơ sở tổ chức thực hiện các nhiệm vụ ở địa phương. Vì vậy, các nhiệm vụ chính trị được thực hiện đồng bộ, linh hoạt, kịp thời hơn; tạo sự thống nhất, phù hợp giữa chủ trương, nghị quyết của cấp ủy với chương trình hành động và việc triển khai tổ chức thực hiện của ủy ban nhân dân. Mô hình này đã tạo được sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, giảm bớt khâu trung gian, đẩy nhanh việc thực hiện các chủ trương, đương lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các nhiệm vụ trọng tâm của cơ sở và giải quyết nhanh hơn các nhu cầu của nhân dân. Khi có vấn đề nảy sinh, bí thư đồng thời là chủ tịch quyết định xử lý và chịu trách nhiệm. Tạo điều kiện thực hiện tốt hơn nguyên tắc tập trung dân chủ nhờ cấp ủy viên, đảng ủy được cung cấp thông tin kịp thời, được đóng góp ý kiến, chất vấn trực tiếp với người đứng đầu cơ quan trong thực hiện các công việc ở cơ sở. 

- Vai trò, quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy và ủy ban nhân dân tập trung vào một người, do vậy tạo sự thống nhất cao trong mọi hoạt động, bảo đảm mọi công việc, thông tin đến cấp ủy là đến ủy ban nhân dân, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất giữa chủ trương lãnh đạo và tổ chức thực hiện, tư tưởng trông chờ, ỷ lại, đùn đẩy trách nhiệm giữa đồng chí bí thư cấp ủy và chủ tịch ủy ban nhân dân; khắc phục tình trạng thường xảy ra trên thực tế là ở một số nơi thường mất đoàn kết giữa đồng chí bí thư cấp ủy và đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân. Tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả; bớt cồng kềnh, chồng chéo về tổ chức, góp phần cải cách hành chính và thực hành tiết kiệm kinh phí chi thường xuyên... 

- Góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy đảng, giúp cấp ủy trực tiếp nhận thông tin về việc điều hành của ủy ban nhân dân được chính xác, kịp thời, tạo điều kiện để tăng cường mối quan hệ phối hợp công tác, từng bước khắc phục hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm giữa cán bộ khối ủy ban nhân dân với cán bộ khối đảng, đoàn thể; nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, nhất là cấp phó. Nâng cao vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Bí thư đồng thời là chủ tịch trực tiếp nhận, xử lý các thông tin, nắm bắt được dư luận, tâm tư, kiến nghị, đề xuất, yêu cầu của dân qua nhiều kênh thông tin. Bí thư có nhiều thông tin về mọi mặt của đời sống ở địa phương, có thực quyền hơn, quyền lực tập trung thống nhất. Từ đó, nâng cao vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp uỷ, nhất là với ủy ban nhân dân cùng cấp.

- Cán bộ cơ sở buộc phải nâng cao trình độ, năng lực công tác, tinh thần tập thể và trách nhiệm. Vì người đứng đầu đảm nhiệm 2 chức danh, khối lượng công việc lớn, trách nhiệm cao cần phải có cấp phó và đội ngũ cán bộ cơ sở thực sự có trình độ, tâm huyết. Người giúp việc cho bí thư - chủ tịch phải là người có năng lực để có thể tham mưu, giúp người đứng đầu nắm và xử lý tình huống đa dạng, phức tạp, toàn diện hàng ngày. Do đó, hầu hết bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân đã quyết tâm rèn luyện, phấn đấu và trưởng hành, nâng cao trình độ, năng lực, khả năng tư duy toàn diện, tính quyết đoán, tự chịu trách nhiệm trước tập thể; bộ máy gọn nhẹ, tinh giản biên chế, tiết kiệm được một phần ngân sách, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Góp phần cải cách hành chính trong Đảng, bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.

Tuy nhiên, việc thực hiện mô hình bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp còn hạn chế, yếu kém chủ yếu sau:

- Một số cấp ủy và cán bộ chủ chốt ở các cấp chưa nhận thức sâu sắc chủ trương thực hiện thí điểm nên trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện còn chậm và thiếu kiên quyết. 

- Năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở nhìn chung còn hạn chế so với yêu cầu; nguồn cán bộ có đủ năng lực, trình độ, khả năng đảm nhiệm được nhiệm vụ của hai chức danh bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân ở cấp cơ sở không nhiều, chưa có quy hoạch cán bộ đồng thời giữ hai chức danh, vì vậy, việc lựa chọn cán bộ vào vị trí này gặp khó khăn. Một số xã, phường, thị trấn sau khi thực hiện thí điểm, cán bộ không hoàn thành được nhiệm vụ, tín nhiệm thấp buộc phải báo cáo cấp trên xin dừng thí điểm.

- Một số nơi thực hiện thí điểm nhưng chưa kịp thời bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy; chưa xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân một cách đồng bộ nên quá trình thực hiện nhiệm vụ nhiều đồng chí còn lúng túng.

- Bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân thường phải giải quyết nhiều công việc cụ thể của chính quyền; phải tham gia nhiều cuộc họp do cấp ủy, ủy ban nhân dân cấp trên triệu tập, do vậy, thời gian chăm lo công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, đoàn thể cũng như công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện còn ít, dẫn đến có nơi xảy ra tình trạng quan liêu, bỏ sót việc, ảnh hưởng đến vai trò, chức năng lãnh đạo của cấp ủy. Một số nơi, xảy ra tình trạng những việc quan trọng của địa phương phải được cấp uỷ thảo luận thống nhất trước khi thực hiện, nhưng không được đưa ra cấp ủy bàn bạc mà người đứng đầu đã tổ chức thực hiện.

- Chưa có cơ chế hữu hữu, phù hợp và chưa thực hiện được việc giám sát và kiểm soát quyền lực khi thực hiện "nhất thể hoá" hai chức danh. Chính sách, chế độ đãi ngộ còn thấp chưa động viên, khuyến khích được cán bộ khi thực hiện "nhất thể hoá" hai chức danh.

- Một số nơi, đã xuất hiện tình trạng độc đoán, chuyên quyền và vi phạm nguyên tắc trong lãnh đạo, điều hành công việc. Khối lượng công việc nhiều, khó thực hiện hài hòa công tác Đảng và công việc chính quyền. Quỹ thời gian giải quyết công việc cụ thể chiếm phần lớn nên ít quan tâm dành cho việc suy nghĩ, đề xuất những chủ trương, kế hoạch lớn, dễ quan liêu, chưa tập trung thực hiện lãnh đạo, chỉ đạo với trách nhiệm là người đứng đầu cấp uỷ và trong công tác kiểm tra, giám sát. Dễ dẫn tới độc đoán, mất dân chủ nếu bố trí cán bộ không phù hợp. Khi quyền lực tập trung trong tay một người sẽ dẫn tới chủ quan, tự mãn. Thực tế, không ít cán bộ chưa xác định rõ khi nào ở “vai bí thư” để giải quyết theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và khi nào ở “vai chủ tịch" để giải quyết theo nguyên tắc thủ trưởng quyết định. Nếu chọn người không đúng, không có quy chế làm việc rõ ràng và thực hiện không tốt dễ dẫn đến mất dân chủ, độc đoán gia trưởng. Trong khi thiếu cán bộ có khả năng giữ cả hai chức vụ nói trên. 

Để đánh giá về mô hình "nhất thể hoá" hai chức danh, nhất là bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp, xin trích dẫn bài nói chuyện của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với Ban Thường vụ và cán bộ chủ chốt của tỉnh Quảng Ninh nhân dịp về thăm tỉnh trong năm 2016. Đồng chí đã lưu ý tỉnh không được chủ quan mà phải vừa làm vừa nghiên cứu, rà soát, rút kinh nghiệm, nhất là trong thực hiện "nhất thể hóa" hai chức danh phải có cơ chế kiểm soát quyền lực của người đứng đầu không được để phát sinh tiêu cực, hậu quả. “Đất nước đã thực hiện đổi mới kinh tế nên giờ phải thực hiện đổi mới hệ thống chính trị để bắt nhịp với nhau, xây dựng đất nước phát triển. Trung ương Đảng đồng ý chủ trương Quảng Ninh tiếp tục thực hiện đổi mới hệ thống chính trị từ việc thực hiện Nghị quyết 19 và Đề án 25 của tỉnh nhưng phải làm chắc chắn, thận trọng, bài bản. Trung ương Đảng tin tưởng Quảng Ninh sẽ làm được và đặt niềm tin ở Quảng Ninh”. Hơn nữa, Nghị quyết Trung ương 6 khoá XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" (Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017) đã nêu rõ: "Cơ bản thực hiện mô hình bí thư đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp; thực hiện bí thư cấp uỷ là chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ở những nơi có đủ điều kiện".

Bài 2: Giải pháp xây dựng cơ chế kiểm soát việc trao và thực thi quyền lực của người đứng đầu trong điều kiện nhất thể hóa

Quyền lực càng cao, càng tuyệt đối, nếu không được kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến sự tha hoá. Vì vậy, khi thực hiện "nhất thể hoá", cần thực hiện đồng bộ các giải pháp kiểm soát quyền lực nói chung và kiểm soát quyền lực của người đứng đầu nói riêng nhằm xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Nhìn một cách tổng thể, việc thực hiện "nhất thể hoá" chức danh bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp mới chỉ thực hiện thí điểm, nhưng đã mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, cũng nảy sinh vấn đề là một số nơi đã xuất hiện những hạn chế, bất cập, nhất là tình trạng lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng để thâu tóm, thao túng quyền lực, dẫn đến độc đoán, chuyên quyền, vi phạm nguyên tắc trong lãnh đạo, quản lý và điều hành công việc. Do vậy, cần phải: "Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương"(1) nói chung và nhất là cơ chế kiểm soát việc trao quyền và thực thi quyền lực đối với người đứng đầu khi "nhất thể hoá" hai chức danh. Muốn vậy, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, thực hiện nghiêm túc việc đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy của Đảng và của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Trung ương 6 khoá XII (Nghị quyết số 18), trong đó có việc "nhất thể hoá" chức danh bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp; hoặc đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp ở nơi có đủ điều kiện

Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Đổi mới chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, xác định rõ mối quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương. Nghiên cứu thực hiện thí điểm hợp nhất một số cơ quan đảng và nhà nước tương đồng về chức năng, nhiệm vụ... Cơ bản thực hiện mô hình bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp. Sớm tổng kết mô hình bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp xã, cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện"(2). Các cấp uỷ cần nhận thức việc "nhất thể hoá" một số chức danh là xu thế tất yếu của phát triển lực lượng sản xuất xã hội và thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm cho Đảng lãnh đạo được lĩnh vực kinh tế để quyết tâm triển khai thực hiện khi có đủ điều kiện, nhất là về đội ngũ cán bộ. 

Hai là, xây dựng chương trình, kế hoạch và nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có đủ đức và tài đảm đương khi "nhất thể hoá" hai chức danh là rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định hiệu lực, hiệu quả, chất lượng hoạt động của bộ máy khi "nhất thể hoá" 

Việc xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ tâm và tầm đảm đương hai chức danh là vấn đề mấu chốt vừa là tiền đề, vừa là điều kiện tiên quyết để "nhất thể hoá" thành công và bảo đảm thực hiện thống nhất, đồng bộ cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" một cách thông suốt, có hiệu quả, chất lượng. Cán bộ luôn là cái gốc của mọi công việc, "muôn sự thành, bại đều do cán bộ".

Thực tế, những khó khăn, hạn chế vừa qua của việc "nhất thể hoá" hai chức danh phần lớn đều do chưa chuẩn bị đầy đủ về cơ chế vận hành, về cán bộ có trình độ, năng lực, khả năng cả công tác đảng và quản lý nhà nước. Trong khi, hiện nay việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách công tác đảng và cán bộ quản lý hành chính nhà nước lại tách biệt nhau dẫn đến thiếu cán bộ có khả năng thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của bí thư cấp uỷ và nhiệm vụ chuyên môn nhà nước. Do vậy, trước mắt cấp uỷ cấp trên lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp với các cơ quan nhà nước xây dựng chương trình, kế hoạch và nội dung, hình thức để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này tương xứng, ngang tầm với nhiệm vụ, quyền hạn được giao. 

Nên thực hiện cơ chế đặc thù để tuyển chọn đội ngũ đảng viên là cán bộ quản lý có năng lực chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm, kỹ năng để đào tạo, bồi dưỡng đảm đương được "nhất thể hoá" hai chức danh, nhất là chức danh bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp, trước hết là ở cấp xã và tương đương, cấp huyện và tương đương. Có thể khẳng định, mấu chốt vẫn là cơ chế tuyển chọn người đứng đầu và những người giúp việc. Khi kiện toàn, "nhất thể hoá" hai chức danh, đòi hỏi người đứng đầu phải có phẩm chất, năng lực toàn diện, vừa có khả năng lãnh đạo, tập hợp quần chúng, có uy tín; đồng thời, phải là người có thể triển khai thực hiện đưa đường lối, nghị quyết vào cuộc sống. Tức là, người đứng đầu phải hội đủ phẩm chất, năng lực của người làm công tác Đảng và công tác chính quyền. 

Ba là, khẩn trương rà soát, nghiên cứu ban hành hoặc sửa đổi các quy định của Đảng và thể chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo khung pháp lý đầy đủ cho việc thực hiện “nhất thể hóa” hai chức danh nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ, thông suốt trong tổ chức và hoạt động của bộ máy

Thứ nhất, ban hành quy chế làm việc của những tổ chức đảng khi bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân hoặc đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân. Hiện nay, ở những nơi "nhất thể hoá" hai chức danh, quy chế làm việc của cấp uỷ và quy chế làm việc hội đồng nhân dân hoặc của uỷ ban nhân dân vẫn riêng rẽ, tách biệt nhau. Tức là cùng lúc, một người phải thực hiện hai quy chế làm việc khác nhau nên nhiều khi lúng túng, né tránh hoặc lại lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực. Cần thống nhất hai quy chế trên đối với những nơi "nhất thể hoá" hai chức danh. Cấp uỷ cấp trên phải là người lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng và ban hành quy chế làm việc này. Trong đó, phải nêu rõ những việc, nội dung mà bí thư cấp uỷ thực hiện cơ chế tập trung dân chủ, bắt buộc phải đưa ra bàn trong tập thể và quyết định theo đa số; những việc, nội dung mà chủ tịch uỷ ban nhân dân thực hiện theo cơ chế thủ trưởng, được quyền quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Đây là vấn đề then chốt để thực hiện cơ chế "nhốt quyền lực trong lồng cơ chế".

Song việc xây dựng cơ chế làm việc này không phải là phép cộng số học của hai quy chế làm việc cũ mà phải có tính khoa học, sáng tạo, có "đất" để người đứng đầu "dụng võ", nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu, tạo sự thống nhất, đoàn kết cao trong mọi hoạt động, bảo đảm mọi công việc, thông tin thông suốt, đồng bộ, khắc phục tình trạng thiếu thống nhất giữa chủ trương lãnh đạo và tổ chức thực hiện, tư tưởng trông chờ, ỷ lại, đùn đẩy trách nhiệm giữa bí thư cấp ủy và chủ tịch uỷ ban nhân dân trước đây.

Thứ hai, xây dựng và ban hành nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân hoặc đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân. Từ năm 2007, Ban Bí thư đã hành Quy định về nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của thường trực tỉnh uỷ, thành uỷ (Quy định số 51-QĐ/TW, ngày 19-4-2007 và nay là Quy định số 42-QĐ/TW, ngày 03-10-2016). Căn cứ quy định của Ban Bí thư, ban thường vụ cấp uỷ cấp trên đã ban hành quy định về nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của thường trực cấp uỷ cấp dưới, trong các quy định này chưa đề cập đến ở những nơi nhất thể hoá hai chức danh mà vẫn quy định nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của từng chức danh. Do vậy, cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ cấp trên lãnh đạo, chỉ đạo ban tổ chức của cấp uỷ cấp mình chủ trì phối hợp với các cơ quan có liên quan, giúp cấp uỷ xây dựng và ban hành quy định về nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của thường trực cấp uỷ cấp dưới, trong đó cần quy định rõ nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của bí thư cấp uỷ khi "nhất thể hoá" hai chức danh. Ngoài các nội dung chung của tập thể thường trực cấp uỷ, Quy định này cần nêu rõ:

- Nhiệm vụ và quyền hạn của bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân hoặc đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp.

- Quan hệ công tác của thường trực cấp uỷ khi bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân hoặc đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp, trong đó cần cụ thể:

+ Quan hệ công tác giữa bí thư cấp uỷ với thường trực cấp uỷ, thường vụ cấp uỷ;

+ Quan hệ công tác giữa bí thư cấp uỷ với cấp uỷ cấp trên, với hội động nhân dân và uỷ ban nhân dân, với các ban tham mưu, giúp việc của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân cấp trên;

+ Quan hệ công tác giữa bí thư cấp uỷ với cấp uỷ trực thuộc, với hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân cấp dưới; với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp.

Cùng với quy chế làm việc, việc xác định nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân hoặc đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp hết sức cần thiết, là cơ sở quan trọng để kiểm soát quyền lực.

Thứ ba, xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến tổ chức bộ máy và cán bộ khi bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân, nhất là khi đồng thời làm chủ tịch uỷ ban nhân dân. Trước hết, khi hợp nhất hai chức danh sẽ động chạm đến lợi ích của nhiều người, nhiều ngành, nếu không có phương pháp, lộ trình, nếu làm không khéo sẽ ảnh hưởng đến sự đoàn kết, thống nhất trong cả hệ thống chính trị và tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Do vậy, cần có cơ chế, chính sách đối với đội ngũ cán bộ này để họ an tâm công tác và dồn tâm huyết cùng cấp trưởng và tập thể thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mình.

Để có cơ sở pháp lý khi thực hiện "nhất thể hoá" hai chức danh, cần phải sửa đổi, bổ sung Luật Cán bộ, Công chức, Luật Viên chức; Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Chính quyền địa phương,... cho thống nhất trong tổ chức, bộ máy. Trước mắt, cần sửa đổi, bổ sung toàn diện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, ngày 22-10-2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và Nghị định số 29/2013/NĐ-CP, ngày 08-4-2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92 nêu trên, vì khi "nhất thể hoá" chức danh bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân thì cơ cấu cán bộ sẽ có sự thay đổi.

Thứ tư, hoàn thiện các quy định, quy chế về kiểm soát việc trao và thực thi quyền lực của người đứng đầu khi "nhất thể hoá" hai chức danh. Ban hành các quy định, quy chế nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc kiểm soát quyền lực, trước hết là quy định về những điều bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp không được làm. Đồng thời, xây dựng và hoàn thiện các quy chế phối hợp giữa các tổ chức và cơ quan có liên quan trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, chú trọng đến đối tượng kiểm tra, giám sát là người đứng đầu ở những nơi "nhất thể hoá" hai chức danh. 

Người đứng đầu khi thực hiện "nhất thể hoá" hai chức danh vẫn là một trong những đối tượng kiểm tra, giám sát của Đảng. Nhưng nhiều khi cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cùng cấp thường e ngại, né tránh. Do vậy, uỷ ban kiểm tra cấp trên phải chủ động, tích cực kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ, chức trách, quyền hạn của đối tượng này để kịp thời nhắc nhở, uốn nắn khi có biểu hiện lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực hoặc buông lỏng lãnh đạo, quản lý và nếu có vi phạm phải kiên quyết xử lý theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Khi vi phạm vượt quá thẩm quyền xử lý của uỷ ban kiểm tra thì phải báo cáo cấp uỷ cùng cấp và khi đó cấp uỷ phải kịp thời xem xét để xử lý công minh, chính xác, kịp thời. Đồng thời, uỷ ban kiểm tra cấp dưới phải chủ động giám sát thường xuyên, nắm tình hình thực hiện chức trách, quyền hạn của người đứng đầu khi "nhất thể hoá" để kịp thời nhắc nhở hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền để quyết định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. 

Bốn là, tăng cường vai trò giám sát của nhân dân và các tổ chức trong hệ thống chính trị trong việc kiểm soát quyền lực của người đứng đầu khi "nhất thể hoá" hai chức danh

Quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân, do vậy để kiểm soát được quyền lực, không thể không phát huy vai trò xây dựng Đảng và chính quyền của nhân dân. Do vậy, cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp trên phải tăng cường dân chủ trong Đảng, đồng thời mở rộng dân chủ trong xã hội, phát huy vai trò của hệ thống chính trị, cơ quan ngôn luận, báo chí và dư luận xã hội làm cơ sở, điều kiện thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát đối với người đứng đầu khi "nhất thể hoá".

- Việc mở rộng và phát huy dân chủ phụ thuộc rất lớn vào người đứng đầu, cấp càng cao, chức càng lớn thì yêu cầu về sự gương mẫu càng cao. Như vậy, phải đặc biệt nhấn mạnh việc thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ rộng rãi trong sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là phát huy quyền và nghĩa vụ của đảng viên tham gia công việc của Đảng, thật thà tự phê bình và phê bình. Mọi đảng viên cũng như mọi tổ chức đảng, mọi cấp ủy từ dưới lên trên đều phải thấy rõ được quyền hạn và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện dân chủ trong Đảng. Các cấp ủy phải thực sự bảo đảm quyền dân chủ của đảng viên trong mọi công việc của Đảng như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã yêu cầu: “Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình và phê bình”(3) và “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ gìn kỷ luật trong Đảng. Mọi cán bộ, đảng viên có quyền tham gia quyết định công việc của Đảng; quyền được thông tin, thảo luận, tranh luận, nêu ý kiến riêng, bảo lưu ý kiến trong tổ chức; khi Đảng đã có nghị quyết thì phải nói và làm theo nghị quyết. Lãnh đạo các cấp phải lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của đảng viên và của nhân dân”(4). 

Để thực hiện có chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát đối với bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp, đòi hỏi phải tăng cường dân chủ trong Đảng, phải có cơ chế, quy định cụ thể việc thực hiện và phát huy dân chủ trong Đảng trên cơ sở cụ thể hóa và chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình và tổ chức thực hiện tốt quy chế chất vấn trong Đảng để khắc phục tình trạng hiện nay, một số nơi sau khi thực hiện "nhất thể hoá" thường xảy ra hiện tượng độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, dân chủ hình thức.

- Đồng thời với việc tăng cường dân chủ trong Đảng phải mở rộng dân chủ trong xã hội, phát huy vai trò của hệ thống chính trị và nhân dân, cơ quan ngôn luận, báo chí và dư luận xã hội trong kiểm soát quyền lực đối với đứng đầu khi "nhất thể hoá" hai chức danh.

Đảng ta luôn khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Trong môi trường làm việc bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp đều liên quan đến quần chúng nhân dân. Từ đó thấy rằng, muốn thường xuyên giám sát chặt chẽ được hoạt động của đối tượng này phải dựa vào nhân dân, lấy sự hài lòng của người dân làm một tiêu chí để đánh giá. Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để góp phần thường xuyên xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh nói chung và người đứng đầu nói riêng, “…có cơ chế để nhân dân bày tỏ ý kiến đối với những quyết định lớn, tham gia công việc của Đảng”(5) và “Công khai các chế độ, chính sách để cán bộ, đảng viên và nhân dân giám sát, kiểm tra”(6) và “Xây dựng thiết chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia giám sát, phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí”(7). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cũng chỉ rõ “…phát huy vai trò, trách nhiệm của… Nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát”. Vì vậy, phải có biện pháp cụ thể, thiết thực mở rộng dân chủ để phát huy vai trò của hệ thống chính trị và Nhân dân trong việc kiểm tra, giám sát đối với người đứng đầu.

Tổ chức thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, nhất là tạo điều kiện cho Nhân dân được tham gia giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân; việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên nhất là ở khu dân cư. Các cấp ủy cần phải tổ chức việc tiếp Nhân dân thuận tiện bằng nhiều hình thức (kể cả tổ chức đường dây nóng, hộp thư góp ý…) để Nhân dân có điều kiện phản ánh tình hình hoạt động, sinh hoạt, thiếu sót, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên nói chung, người đứng đầu nói riêng; phải thực sự tiếp thu, sửa chữa các thiếu sót, khuyết điểm đã được quần chúng nhân dân đóng góp, đồng thời công khai kết quả việc tiếp thu, sửa chữa bằng hình thức thích hợp để quần chúng nhân dân giám sát. Có quy chế, quy định cụ thể để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp ở các cấp tham gia giám sát người đứng đầu để góp phần cảnh báo khi có biểu hiện lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực, thậm chí độc đoán chuyên quyền.

Lịch sử đã chứng minh: quyền lực càng cao, càng tuyệt đối nếu không được kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến sự tha hoá. Việc thực hiện một số giải pháp trên sẽ góp phần kiểm soát quyền lực nói chung và kiểm soát quyền lực của người đứng đầu khi thực hiện "nhất thể hoá" hai chức danh nói riêng nhằm xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Bài 3: Kiểm soát việc thực thi quyền lực của người đứng đầu góp phần phòng, chống suy thoái, tham nhũng, lãng phí

Nhìn một cách tổng thể, những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, nghị quyết đổi mới, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ, bệnh độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các tổ chức kinh tế của Nhà nước. Mặt khác, Đảng đã coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, trong đó chú trọng cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, phù hợp với tình hình thực tế. Đặc biệt coi trọng việc xác định quyền và trách nhiệm của tập thể và quyền, trách nhiệm của cá nhân trong tập thể, trước hết là đối với người đứng đầu. 

Tăng cường phân cấp, phân quyền theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức Nhà nước, tổ chức kinh tế của Nhà nước ở các cấp. Đồng thời, từng bước có cơ chế, chế tài cụ thể trong việc xác định, xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu khi có khuyết điểm, vi phạm. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vì nhiều nguyên nhân, một số người đứng đầu vẫn mắc phải những sai lầm, khuyết điểm trong việc thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm được giao, dẫn đến những hậu quả xấu, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, bản thân người đứng đầu, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội.

Thực tế cho thấy, trong một số quy định, việc trao quyền không phù hợp với trách nhiệm thì dẫn đến người đứng đầu ỷ lại, dựa vào tập thể, thiếu năng động, sáng tạo, không dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, thu mình để được bình an, làm cho cơ quan, đơn vị, địa phương yếu kém, mất đoàn kết, kinh tế-xã hội không phát triển được...

Ngược lại, việc trao quyền cho cá nhân người đứng đầu không tương thích với trách nhiệm (quyền lớn hơn trách nhiệm), thì người đứng đầu dễ dẫn đến lạm quyền, lộng quyền, làm trái, bất chấp nguyên tắc, quy định, quy chế, quy trình, nhất là trong công tác cán bộ. Cũng có một thực tế khác, khi việc trao quyền và trách nhiệm của người đứng đầu dù là tương thích nhưng tập thể vì nể nang, ngại va chạm, hoặc bị người đứng đầu thao túng, dẫn đến tự tung tự tác, bất chấp nguyên tắc, quy chế, quy trình và không có sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát thường xuyên, hữu hiệu của tổ chức đảng, cơ quan có thẩm quyền cấp trên thì dẫn đến việc không những chỉ mình người đứng đầu có khuyết điểm, vi phạm, mà cả tập thể cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương cũng mắc phải khuyết điểm, vi phạm, đều phải bị xem xét, xử lý kỷ luật, thậm chí bị kỷ luật rất nghiêm khắc.

Trong trường hợp này, điển hình là khuyết điểm, vi phạm của tập thể Ban cán sự đảng Bộ Công Thương và của đồng chí Vũ Huy Hoàng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban cán sự Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương trong công tác cán bộ. Qua kiểm tra cho thấy, Ban cán sự đảng Bộ Công Thương trong một số trường hợp không họp thảo luận tập thể, bàn bạc dân chủ để thống nhất trước khi ra nghị quyết, đồng chí Bí thư Ban cán sự đảng chỉ đạo gửi lấy ý kiến bằng văn bản đối với từng đồng chí thành viên Ban cán sự đảng; đồng chí Bí thư Ban cán sự đảng tự ý chỉ đạo cơ quan giúp việc đưa một số cán bộ vào quy hoạch chức danh Thứ trưởng nhưng không xin ý kiến của Ban cán sự đảng; trong khi đó, cấp trên thẩm định không chặt chẽ, không phát hiện ra sai phạm của cấp dưới, nên vẫn quyết định đồng ý thông qua đề nghị quy hoạch cán bộ của cấp dưới. 

Việc thực hiện điều động, bổ nhiệm một số cán bộ cấp vụ trực thuộc Bộ Công Thương không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, có trường hợp với thời gian quá nhanh, nhưng một số đồng chí thành viên Ban cán sự đảng do nể nang, ngại va chạm, thiếu tính chiến đấu, nên không có chính kiến, để đồng chí Bí thư Ban cán sự đảng có vi phạm, khuyết điểm, dẫn đến cả đồng chí Bí thư Ban cán sự đảng và cả tập thể Ban cán sự đảng Bộ Công Thương đều bị thi hành kỷ luật với hình thức kỷ luật nghiêm khắc. Điều đáng lưu ý, khi Ban cán sự đảng họp thảo luận và bàn về công tác nhân sự đối với một số trường hợp, qua kiểm tra cho thấy, đều không thực hiện việc mời các cán bộ được phân công theo dõi địa bàn của các ban xây dựng đảng cấp trên có liên quan đến dự các cuộc họp đó để thực hiện chức năng giám sát theo quy định, nên không phát hiện được các sai phạm của Ban cán sự đảng cũng như của đồng chí Bí thư Ban cán sự đảng. 

Qua kiểm tra ở một số tổ chức đảng khác cho thấy, người đứng đầu khi trao quyền cho cấp phó, cấp dưới thì lại thiếu đôn đốc, kiểm tra, giám sát, kiểm soát thường xuyên, dẫn đến cấp dưới làm trái, có khuyết điểm, vi phạm nhưng không biết; mặt khác, cấp dưới khi thấy vấn đề có tính phức tạp, nhạy cảm, hoặc vượt quá thẩm quyền cũng không chủ động báo cáo, xin ý kiến của người đứng đầu, khi có sai phạm thì ảnh hưởng đến cả uy tín của tổ chức, của tập thể, của người đứng đầu và của cán bộ cấp phó. Trong khi đó, tổ chức có thẩm quyền cấp trên cũng thiếu kiểm tra, giám sát chặt chẽ, nên cũng không phát hiện được thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế của người đứng đầu và của cấp phó của người đứng đầu cấp dưới để góp ý, cảnh báo, nhắc nhở sửa chữa, khắc phục kịp thời. Dẫn đến khi có vụ việc xảy ra, kiểm tra có khuyết điểm, vi phạm phải xử lý, vừa hỏng công việc, vừa mất cán bộ, vừa ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và một số cán bộ làm công tác tham mưu, thẩm định phải kiểm điểm, xử lý kỷ luật. Hoặc ở một số cơ quan, đơn vị, tổ chức khác, do thiếu sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát, người đứng đầu tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong những năm cuối nhiệm kỳ thường mắc bệnh "tư duy nhiệm kỳ", "bệnh cuối đời" trong việc bổ nhiệm một số cán bộ dưới quyền, kể cả bổ nhiệm người nhà, người thân vì nhiều lý do, trong đó có cả lý do vụ lợi, không đúng nguyên tắc, tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, thủ tục, gây bức xúc trong dư luận.

Qua các vụ việc, biểu hiện như trên trong công tác cán bộ cho thấy nguyên nhân chính là do các quy định hiện hành của Đảng, Nhà nước chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, chưa chặt chẽ; việc thực hiện của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị chưa bảo đảm nguyên tắc, quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn, điều kiện, chưa bảo đảm sự công khai, minh bạch, công bằng, dẫn đến bổ nhiệm người nhà, người thiếu tài, kém đức, không phải là người có tài, tương xứng với vị trí, chức danh đảm nhiệm. Điều quan trọng là chưa có cơ chế hữu hiệu để kiểm soát chặt chẽ việc trao và thực thi quyền lực của người đứng đầu (bao gồm quyền lực chính trị, quyền lực lập pháp, quyền lực hành chính, quyền lực tư pháp, quyền lực kinh tế, quyền lực thông tin,...), dẫn đến hậu quả và hệ quả khôn lường trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong tình hình hiện nay, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, tệ tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, chủ nghĩa thân hữu, tiêu cực, cần chú trọng tăng cường việc quản lý, kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc trao và thực thi quyền lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở các cấp, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính-xã hội, tổ chức kinh tế của Nhà nước, góp phần đấu tranh có hiệu quả trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, chủ nghĩa thân hữu, chủ nghĩa cá nhân, cơ hội thực dụng, những người thoái hóa, biến chất. Từ đó, đẩy lùi sự tha hóa quyền lực của người đứng đầu trong các cấp ủy, tổ chức đảng, bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị. Xin đề xuất một số giải pháp chính sau đây:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức, chức trách nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện để các thành viên trong tổ chức và cấp dưới noi theo.

Hai là, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, trước hết là người đứng đầu nêu cao đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, không sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước Nhân dân; không lạm quyền, lộng quyền được giao để làm trái, vụ lợi hoặc để người thân trong gia đình tác động, chi phối bản thân hoặc lợi dụng chức quyền, vị trí công tác của mình để trục lợi.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp phải thực sự gương mẫu, thể hiện tính tiên phong đi đầu, khắc phục biểu hiện độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, can thiệp, ngăn cản, bất chấp nguyên tắc. Cán bộ, đảng viên, thành viên của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cần khắc phục sự nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, không thẳng thắn đấu tranh phê bình, góp ý chân thành với đồng chí mình, nhất là với người đứng đầu về các hành vi, việc làm sai trái với quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước.

Ba là, các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế của nhà nước kịp thời rà soát sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của tổ chức mình cho phù hợp và tổ chức thực hiện nghiêm túc. Trong đó chú ý phân định rõ ràng, cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của tập thể, cá nhân, nhất là thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu với tập thể cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị để kiểm soát chặt chẽ việc thực thi quyền lực của người đứng đầu, nhất là trong công tác cán bộ, quyết định phân bổ nguồn lực, phê duyệt các dự án đầu tư,...

Bốn là, đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo nghiên cứu xây dựng và tổ chức thực hiện tốt cơ chế kiểm soát việc trao và thực thi quyền lực của người đứng đầu để phòng ngừa, ngăn chặn việc lạm quyền, lộng quyền. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, cán bộ chủ chốt các cấp; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát, sàng lọc, xử lý, thay thế, miễn nhiệm, cho từ chức người đứng đầu yếu kém về phẩm chất, đạo đức, tín nhiệm thấp, năng lực lãnh đạo thực tiễn hạn chế, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, quy chế làm việc trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công việc, nhất là trong công tác cán bộ, phê duyệt các dự án đầu tư, sản xuất kinh doanh có biểu hiện vụ lợi, lợi ích nhóm, thiếu công khai, minh bạch, gây bức xúc trong nhân dân. Việc thực hiện các nội dung đó đối với cán bộ chủ chốt, người đứng đầu phải kịp thời, kiên quyết, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, hết tuổi công tác của cán bộ; xử lý dứt điểm các vụ vi phạm trong thực thi quyền lực, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, kể cả đối với cán bộ đang đương chức và đã nghỉ chế độ.

Năm là, nghiên cứu tăng thẩm quyền và chế tài xử lý trách nhiệm của ủy ban kiểm tra các cấp đầu trong việc kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên, nhất là đối với người đứng đầu. Hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước và kỷ luật của các đoàn thể chính trị - xã hội đối với người đứng đầu. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Cán bộ, đảng viên, người đứng đầu các cấp vi phạm trong việc thực thi quyền lực được giao phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, không có vùng cấm, không có vùng trống, không có ngoại lệ, không có nhân nhượng, bất kể người đó là ai, giữ cương vị nào để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.


Cao Văn Thống, Uỷ viên Uỷ ban Kiểm tra Trung ương
và Trần Duy Hưng, Phó Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương


------------------------------------------------

(1) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà nội 2016, tr 203.
(2) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà nội 2016, tr 203 - 204.
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr 283.
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr 134.
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr 134.
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr 288.
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2006, tr 289.

Phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Xem nhiều nhất