Bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn

Đồng chí Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7-4-1907, tại làng Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Là người sớm giác ngộ tinh thần cách mạng, đồng chí Lê Duẩn gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Năm 1930, đồng chí trở thành một trong những đảng viên lớp đầu của Đảng cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Năm 1931, đồng chí là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ. Tháng 4 năm đó, đồng chí bị địch bắt và kết án 20 năm tù, lần lượt bị giam ở các nhà tù Hỏa Lò, Sơn La và Côn Đảo.

Năm 1936, với thắng lợi của Mặt trận Bình dân ở ở Pháp và phong trào đấu tranh của nhân dân ta, chính quyền thực dân buộc phải trả tự do cho nhiều chiến sĩ cộng sản trong đó có đồng chí Lê Duẩn. Từ Côn Đảo trở về, dù sức khỏe giảm sút, bất chấp sự đe dọa, quản thúc của kẻ thù, đồng chí đã tham gia trực tiếp chỉ đạo phong trào đấu tranh ở quê nhà Quảng Trị. Đồng chí nhiều lần đến cơ sở cách mạng là nhà đồng chí Hồ Tần, Lê Quang Soạn và miếu An Mỹ (Miếu An Mỹ nay  thuộc làng An Mỹ, xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ) để họp với các đồng chí cán bộ, đảng viên chủ chốt, phổ biến các nghị quyết của Trung ương Đảng, Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế Cộng sản. Trong thời kỳ này đồng chí cũng đã lặn lội khắp các tỉnh miền Trung để xây dựng lại các đảng bộ bị tan rã do đế quốc đàn áp, khủng bố, khôi phục Xứ uỷ Trung kỳ.

Năm 1937, đồng chí được giữ chức Bí thứ Xứ uỷ Trung kỳ. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ VI (11-1939), đồng chí Lê Duẩn đã sát cánh bên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, tham gia soạn thảo “Chính sách mới của Đảng”, quyết định thành lập “Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương” thay cho “Mặt trận dân chủ”, chuyển hướng cuộc đấu tranh cách mạng sang một thời kỳ mới, thời kỳ gương cao ngọn cờ “giải phóng dân tộc, lấy lợi ích dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa, cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”(1). Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn, một làn sóng cách mạng phản đế đã dấy lên, tiêu biểu là ba cuộc Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, làm rung động bộ máy thực dân.

Bị thực dân Pháp bắt và đầy ra Côn Đảo lần thứ hai (1940-1945), cùng với các chiến sĩ cộng sản khác, đồng chí Lê Duẩn một lần nữa khẳng định bản lĩnh và phẩm chất cách mạng của mình, vượt qua thử thách, một lòng kiên trung với Đảng, dân tộc. Cách mạng Tháng Tám thành công, từ năm 1946 đến năm 1954, với cương vị Bí thư Xứ ủy, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí lãnh đạo Đảng bộ miền Nam tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, góp phần vào thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết năm 1954, đồng chí Lê Duẩn đã khởi thảo bản Đề cương Cách mạng miền Nam, chỉ ra phương hướng và những bước đi cơ bản của cách mạng miền Nam, đóng góp to lớn vào Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng về cách mạng miền Nam. Với tư duy chiến lược vượt trội của “ngọn đèn 200 nến”, đồng chí đã sớm đi tới chân lý: Nhân dân ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống Mỹ - Diệm, để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không còn con đường nào khác” (2). Trong bối cảnh cực kỳ khó khăn của cách mạng miền Nam lúc bầy giờ, “Đề cương” đã dấy lên niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng trong đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Giữa 7-1956, đồng chí Lê Duẩn được Trung ương điều ra công tác bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh để chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ III. Trong phiên họp đặc biệt của Bộ Chính trị, ngày 7-10-1957, đồng chí được cử làm Quyền Tổng Bí thư. Thời gian này, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, đồng chí đã góp phần quan trọng vào quá trình chuẩn bị và tổ chức Hội nghị Trung ương 15, khoá II. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 được thông qua tại Đại hội III của Đảng đã hoàn chỉnh chiến lược cách mạng cho nhân dân miền Nam đánh Mỹ và thắng Mỹ. Dưới ánh sáng của Nghị quyết này, các cuộc đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ một số địa phương miền Nam bùng lên thành phong trào Đồng Khởi mạnh mẽ. Từ đó, cách mạng miền Nam Việt Nam đã chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang tiến công, đẩy chế độ ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn bước vào một thời kỳ khủng hoảng nặng nề, triền miên, buộc Mỹ phải tự giới hạn phản ứng trong phạm vi miền Nam. Cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới, từ khởi nghĩa vũ trang, phát triển thành chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng. Trong quá trình đó, cùng tập thể Bộ Chính trị, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã có những cống hiến suất sắc trong việc quán triệt, vận dụng sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân để lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trên cả hai miền đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, tạo điều kiện quyết định để đi tới hạ quyết tâm hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mùa Xuân năm 1975. Lịch sử kháng chiến chống Mỹ đã chứng tỏ tầm nhìn chiến lược của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Đây là một phẩm chất vô cùng quý báu của những nhà hoạch định chiến lược của Đảng ta. 

Sau khi đất nước thống nhất, cả nước tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị tập trung trí tuệ, công sức vào việc hoạch định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Đại hội lần thứ IV (1976) và Đại hội V (1982) của Đảng, Tổng Bí thư  Lê Duẩn có những đóng góp vô cùng quan trọng đối với việc hoạch định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong những điều kiện khác nhau, cả thời điểm thuận lợi cũng như lúc gặp khó khăn, cả khi gặp những vấn đề lý luận và thực tiễn sáng tỏ cũng như khi những tư tưởng, quan điểm đang trong qua trình tìm tòi, Tổng Bí thư luôn luôn đào sâu suy nghĩ, kiên trì nghiên cứu và thử nghiệm, một lòng trung thành với lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, với Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Điều mà đồng chí luôn luôn tâm niệm và kiên trì phấn đấu là “Tất cả vì Tổ quốc vì xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc nhân dân”.

Với 79 tuổi đời, gần 60 năm hoạt động cách mạng, gần 26 năm liên tục trên cương vị Bí thư thứ Nhất và Tổng Bí thư của Đảng ta, đồng chí Lê Duẩn đã thể hiện rõ là một nhà lý luận có tầm cỡ chiến lược của cách mạng Việt Nam với một tư duy sáng tạo lớn, đã có những cống hiến xuất sắc về nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Đánh giá công lao và tài năng của đồng chí Lê Duẩn, Đảng ta khẳng định: “Là một nhà mác-xít - lê-nin-nít chân chính, đồng chí Lê Duẩn luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi, xuất phát từ tình hình thực tế, phân tích, giải quyết những vấn đề mới do cuộc sống đề ra. Sự sáng suốt của đồng chí thể hiện nổi bật trước những bước ngoặt của lịch sử và những tình huống phức tạp” (3).

Sinh thời, cố Tổng Bí thư Lê Duẩn tâm niệm, thực tiễn cách mạng luôn là điểm xuất phát, con người và đạo lý dân tộc là điểm tựa cho việc suy nghĩ, tìm tòi theo phương pháp luận biện chứng của học thuyết Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh để lý giải tình hình, xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng cũng như giải quyết những vấn đề mới, cụ thể của cuộc sống đặt ra. Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng những bài học về lý luận và thực tiễn quý báu mà Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn để lại cho chúng ta vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt là vào thời điểm toàn Đảng ta đang nỗ lực thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế và nhiệm vụ then chốt là chỉnh đốn, xây dựng Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới.

___________

(1) Lê Duẩn: Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 1993, tr.160.
(2) Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ Đảng: Lê Duẩn và Cách mạng Việt Nam, NXb CTQG, HN, 2007, tr.221.
(3) Điếu văn - Báo Nhân Dân, ngày 16 tháng 7 năm 1986. 


Phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Xem nhiều nhất